Skip navigation links
Giới thiệu Lâm Đồng
Giới thiệu chung
Điều kiện tự nhiên
Lịch sử
Tiềm năng du lịch
Cơ sở hạ tầng
Tài nguyên thiên nhiên
Bộ máy tổ chức
Tin tức sự kiện
Tin tức nổi bật
Tin tức trong tỉnh
Tin trong nước
Tin quốc tế
Bản đồ hành chính
sadfasTrang chủ > Tin tức sự kiện > Tin tức trong tỉnh > Như những dòng suối hòa vào sông lớn
Như những dòng suối hòa vào sông lớn 

Từ những đợt di dân và chọn miền thượng du này làm quê hương mới, đồng bào từ nhiều vùng trong nước đã mang đến Tây Nguyên hồn cốt cố xứ và bản sắc văn hóa các tộc người. Những giá trị đó góp phần tô điểm đại ngàn hùng vĩ phía Tây Tổ quốc thành tấm thổ cẩm hoa văn đa sắc. Nét độc đáo của mỗi tộc người, mỗi vùng miền như những dòng suối nhỏ mát lành hòa vào dòng chảy văn hóa đại trường giang Tây Nguyên.

Nét văn hóa Tây Bắc giữa đại ngàn Tây Nguyên. Ảnh: U.T.B

 1. Đã mấy mùa Thu, cụ Nguyễn Thái Huyền mời tôi dự lễ tế đình Nghệ - Tĩnh ở Phường 8, TP Đà Lạt. Ấp Nghệ - Tĩnh, quê mới của người xứ Nghệ trên đất cao nguyên được thành lập từ năm 1927, do vị Quản đạo đồng hương Phạm Khắc Hòe tổ chức đưa dân vào. Dù đã lập cư trên quê mới gần một thế kỷ, qua nhiều thế hệ, nhưng con dân những xứ Thanh Chương, Đô Lương, Nam Đàn, Đức Thọ…vẫn giữ nguyên phong cách cố xứ. Người ấp Nghệ - Tĩnh đi ra phố là hòa nhập với văn hóa sinh hoạt, cách ăn lời nói của “xứ đàng trong”, còn khi về ấp, về làng lại ríu ran giọng Nghệ, lại chặt to kho mặn, lại í ới râm ran chè xanh, điệu ví câu giặm lại cất lên trong ầu ơ giọng bà ru cháu. Những khu bên cạnh ấp Nghệ - Tĩnh như ấp Hà Đông của người dân các làng bên sông Hồng, ấp Trường Xuân của người Quảng Nam, ấp Ánh Sáng của người Thừa Thiên Huế vào lập cư trên đất Đà Lạt từ những năm đầu thế kỷ trước cũng vậy. Những lễ nghi tâm linh, phong tục, tập quán, cúng tế, ma chay, cưới hỏi trong ấp, trong làng vẫn giữ nguyên nếp cũ. Chính bản sắc độc đáo từ các vùng miền đã góp phần làm đẹp thêm, sinh động thêm, tạo nên sự đa dạng trong văn hóa cộng đồng và những nét tính cách của người Đà Lạt, người Tây Nguyên hôm nay.

 Từ sau ngày nước nhà thống nhất, cùng với đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, người dân từ các vùng đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải miền Trung đã chọn Tây Nguyên làm quê hương thứ hai theo những làn sóng di cư, cả trong và ngoài kế hoạch. Họ đã “gánh cả tên xã, tên làng theo những cuộc di dân” (thơ Nguyễn Khoa Điềm), họ mang vào đất mới nền văn minh làng xã đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa biển. Trên đất Tây Nguyên, nơi nào người dân từ các vùng miền trong nước về tụ cư tập trung thì nơi đó bản sắc văn hóa cố xứ hết sức đậm đà. Nó như những mạch nguồn âm ỉ trong dòng chảy đời sống hằng ngày của cư dân, cộng đồng. Mỗi khi có cơ hội thì dòng chảy ấy trào tuôn làm ấm thêm sắc màu quê mới. Nó thể hiện ở cách đặt tên làng, tên phố, bằng những bản “hương ước” kế thừa những mỹ tục, điều phải, lẽ hay từ quê cũ, làng xưa. Nó hiện hữu trong mỗi nét ăn, điều ở, lối sống, ứng xử và những biểu hiện hằng ngày. Những lời ca, điệu múa cổ truyền từ thưở ông bà vẫn được trao truyền, phát huy trong đời sống hôm nay.

Dòng chảy trong lành ấy tôi đã cảm nhận khi về với Lâm Hà, vùng đất kinh tế mới của người Hà Nội. Những tín hiệu ấm áp ấy tôi đã chứng kiến khi về với quê mới của người Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định ở vùng Cát Tiên bên dòng sông Đồng Nai. Những đêm giao lưu văn hóa đậm chất xứ Nghệ tôi cũng từng được tham dự với bà con đồng hương ở xứ Đắk Min vùng biên viễn Đắc Nông... 

Những em bé người Mông trong lớp học trên quê mới Tây Nguyên. Ảnh: U.T.B

 2. Có nhiều khi lang thang trên những cung đường đèo dốc Đắc Nông, Gia Lai nồng hương đất bazan, tôi như thấy núi rừng sáng lên bởi những nét thổ cẩm đến từ miền Tây Bắc. Dáng những người con trai Mông với dao phát trên tay và chiếc kềnh (khèn bầu làm từ sáu ống trúc) ngang lưng. Dáng những người con gái Mông với chiếc ô hoa trên đầu và váy áo rực lên những gam màu sặc sỡ, lấp lánh vô vàn bạc trắng, kim sa. Có nhiều khi dưới một triền thung lũng ngập tràn nắng gió bên dòng K’rông Ana (Đắc Lắc) hay dòng Dăk Bla (Kon Tum), bỗng nghe điệu hát lượn slương cất lên giữa nương ngô xanh lá và thấp thoáng bóng áo bông nhuộm chàm của những cô gái Tày đến từ cực bắc Lạng Sơn. Có nhiều khi giữa phiên chợ Tùng Nghĩa của miền sơn nguyên Lâm Đồng chợt bắt gặp những nhóm trai gái Thái ríu ran trò chuyện bằng ngôn ngữ của dân tộc mình dù cha ông họ từ Cao - Bắc - Lạng đến đây lập cư từ hàng chục năm trước...

 Đi, thấy và cảm nhận văn hóa Tây Nguyên đã đậm in những gam màu thơm hương tươi sắc từ nhiều miền quê, từ nhiều tộc người góp mặt. Tôi như nghe lời hát trường ca “Xống chụ xon xao” (Tiễn dặn người yêu, dân tộc Thái), “Te tấc te đác” (Đẻ đất đẻ nước, dân tộc Mường) quyện trong lời khan “Đam San”, “Xing Nhã” của đồng bào bản địa Tây Nguyên. Tôi như nghe văng vẳng tiếng khèn Mông hòa cùng giai điệu khèn M’buốt của người Cơ Ho; âm thanh cồng Mường hòa với tiếng chiêng núm, chiêng bằng của người Ê Đê, Ba Na, Chu Ru; điệu xòe Tây Bắc nối nhịp bước chân cùng điệu xoang Tây Nguyên. Trong bữa liên hoan đoàn kết các buôn làng hôm nay, ngoài những món ăn truyền thống của người Kinh, rồi của đồng bào các dân tộc bản địa như xôi ống, thịt nướng, canh da trâu nấu với cà đắng, rau rừng và những chóe rượu cần thơm nức hương đại ngàn Tây Nguyên, đã có thêm những món ăn từ núi rừng biên cương phía Bắc như thắng cố, cơm lam, chẩm chéo chấm với cá nướng và các loại rượu Sán Lùng, Mẫu Sơn, Bắc Hà hay rượu Cốc Ngù chôn trong hang đá...

 Thào Hùng Khải bạn tôi, một cựu chiến binh người dân tộc Mông, đã dẫn người dân từ quê hương Nguyên Bình (Cao Bằng) của mình vào lập bản ở xã Lộc Thành (Bảo Lâm, Lâm Đồng) hơn hai mươi năm trước. Anh trở thành thủ lĩnh của bản Mông, xét trên nhiều nghĩa, trong đó có ý thức bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của ông bà. Ở bản của Khải, đồng bào vẫn sử dụng trang phục truyền thống, con gái vẫn biết hát dân ca và con trai vẫn thổi khèn lá, khèn bầu. Khải đã mời tôi về với bản anh và tham gia trò chơi ném pao trong lễ hội Gầu Tào giữa miền quê mới. Tôi cũng từng thưởng thức các nghệ nhân Câu lạc bộ hát then, đàn tính của đồng bào Thái, Tày, Nùng từ phía Bắc di cư đến xã Phi Tô (Lâm Hà, Lâm Đồng) biểu diễn. Ở các xã Nam Dông, Đắk D’rong (Cư Yút, Đắc Nông) cũng có đến bốn câu lạc bộ hát then, đàn tính và gặt hái nhiều giải cao trong các liên hoan. Tôi cũng đã gặp bà Bạc Thị Hiến, người phụ nữ thường đánh trống trong các lễ hội ở bản Thái thuộc thị trấn Liên Nghĩa (Đức Trọng, Lâm Đồng). Bà Hiến chính là người đã tham gia thành lập “Câu lạc bộ bản sắc văn hóa Thái” trên quê mới để những người đồng tộc cùng nhau sinh hoạt, trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ, cùng múa quạt, hát then, gảy đàn tính tẩu cho đỡ nỗi nhớ mong quê cũ. Bà Hiến nói: “Những người lớn tuổi dạy con cháu gìn giữ văn hóa Thái không chỉ trong các lễ hội truyền thống mà bằng chính những sinh hoạt hằng ngày, bằng cử chỉ giao tiếp, lời nói, miếng ăn...”.

 3. Khi đã nhận thức đó là những vốn quý, trong nhiều năm qua, chính quyền và ngành văn hóa các địa phương đã thực thi rất nhiều chương trình nhằm phát huy bản sắc văn hóa các vùng miền trên đất Tây Nguyên. Chính cách làm đó đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng. Trên cái nền cốt cách đầy nội lực của văn hóa bản địa của các tộc người nói hai ngữ hệ Mon - Khmer và Malayo-Polynesia, sự góp mặt những sắc màu văn hóa của các tộc người anh em từ mọi miền Tổ quốc đến đây đã tạo những cung bậc cảm xúc mới, hòa điệu và hấp dẫn. Ở đâu đó giữa đại ngàn, cái nôi cồng chiêng, kể khan Tây Nguyên chợt da diết với lời hát then trong giai điệu đàn tính của người Tây Bắc. Ở đâu đó sau mùa thu hoạch cà phê người dân lại được sống cùng đêm chèo Bắc Bộ mát rượi như thưở xưa sân đình và liền chị, liền anh lúng liếng làn điệu quan họ Kinh Bắc trên miền quê mới. Xa biển lên rừng từ lâu nhưng người duyên hải nhớ về quê cũ vẫn không quên điệu hò bá trạo siêu linh trong lễ Cầu Ngư, câu lý giao duyên trữ tình hay lớp tuồng kể chuyện xưa tích cũ…

 Rằm tháng Giêng vừa rồi, đồng bào dân tộc Thái ở huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) đã thể hiện một chương trình nghệ thuật đậm sắc màu Tây Bắc trong lễ hội Xòe Chiêng bên dòng thác Pon Gour. Cũng cộng đồng này lại tổ chức lễ hội Xên Mường mừng mùa hoa ban vào trung tuần tháng hai nguyệt lịch. Các lễ hội của đồng bào Thái ở huyện Đức Trọng đã thu hút đồng bào các dân tộc anh em khắp tỉnh và du khách mọi miền cùng về tham dự, thưởng lãm. Cũng dịp đầu năm mới vừa rồi, tại huyện K’rông Năng (Đắc Lắc), những người anh em dân tộc Kinh và đồng bào bản địa Tây Nguyên lại được hòa mình trong dòng chảy cảm xúc, thưởng thức ẩm thực cùng Lễ hội văn hóa dân gian Việt Bắc. Trên đất cao nguyên này, những lễ hội văn hóa của mỗi tộc người đã trở thành ngày hội chung của cả cộng đồng và ngày hội văn hóa chung đều có sự góp mặt những nét độc đáo riêng của các tộc người, các vùng miền anh em. Bởi lẽ, ở đâu có cộng đồng cư dân tập trung các tộc người, các vùng miền thì ở đó có nhu cầu thể hiện bản sắc và giao lưu văn hóa. Đồng bào Tây Nguyên có quan niệm “tốt khoe, xấu che”, có lẽ đúng, cái đẹp ở mỗi tộc người luôn có nhu cầu được công khai thưởng lãm. Cả điều này cũng đúng, khi đời sống kinh tế ngày càng thêm ấm no thì khao khát thẩm mỹ, thỏa mãn đời sống tinh thần cũng bộc lộ rõ thêm...

 Cái đẹp của văn hóa đã tạo nên sự xích lại gần nhau của các cộng đồng cư dân. Phát huy bản sắc các vùng miền, các tộc người đã tạo nên những sinh khí, những cố kết, những nền tảng nhân văn vững bền trên quê hương mới. Trong quá trình giao lưu văn hóa, cộng đồng cùng tham gia, chia sẻ, cộng cảm. Họ cất lên thông điệp chung cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cho cuộc sống an lành, hạnh phúc. Thăng hoa tinh thần góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện đời sống. Việc khơi thông những mạch nguồn bản sắc trong quá trình giao lưu, tiếp biến, giao thoa văn hóa các dân tộc cùng chung sống trên vùng đất Tây Nguyên là điều vô cùng ý nghĩa và cần thiết. 

Các tin khác

 

 
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 36 Trần Phú, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 0263.3545579 - Fax: 0263.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam
 
ipv6 ready