Skip navigation links
Giới thiệu Lâm Đồng
Giới thiệu chung
Điều kiện tự nhiên
Lịch sử
Tiềm năng du lịch
Cơ sở hạ tầng
Tài nguyên thiên nhiên
Bộ máy tổ chức
Tin tức sự kiện
Tin tức nổi bật
Tin tức trong tỉnh
Tin trong nước
Tin quốc tế
Tăng trưởng xanh
Tổng quan
Cách tiếp cận
Các công cụ đánh giá
Các chiến lược tăng trưởng xanh
Các can thiệp giảm thiểu tiềm năng
Bản đồ hành chính
sadfasTrang chủ > Tăng trưởng xanh > Các công cụ đánh giá
Các công cụ đánh giá 

Quy hoạch sử dụng đất cho các dịch vụ môi trường (LUMENS)

Trong số các công cụ hiện có có thể được sử dụng để dự báo về tác động của chiến lược sử dụng đất đến các chỉ số kinh tế và sinh thái như các công cụ được Lee và cộng sự (2003), Messina và Walsh (2001), Soares-Filho và cộng sự (2008) và mô hình FALLOW (van Noordwijk 2002); LUMENS (Dewi và cộng sự, 2015) đã cung cấp một cách tiếp cận toàn diện hơn để đánh giá các loại dịch vụ hệ sinh thái khác nhau gồm cả đa dạng sinh học. Mô hình có bốn mô-đun cơ bản là:

(1)   PUR (điều chỉnh đơn vị quy hoạch) để xác định phân khu hay đơn vị quy hoạch

(2)   QUES để đánh giá dịch vụ hệ sinh thái bao gồm hai mô-đun phụ là QUES-C (Định lượng dịch vụ môi trường cho carbon) để ước tính trữ lượng hoặc phát thải carbon trong cảnh quan trong một giai đoạn nhất định và QUES-B để đánh giá đa dạng sinh học

(3)   TA (Phân tích đánh đổi nền kinh tế khu vực) có hai mô đun phụ là Phân tích mô tả được sử dụng để tính toán các chỉ sổ kinh tế và các chỉ số trở thành chỉ số kinh tế của vùng mô phỏng và Phân tích yêu cầu đất của mô đun phụ với dữ liệu đầu vào thông báo nhu cầu đất và năng suất sử dụng đất của từng ngành kinh tế, và

(4)   SCIENDO để thiết lập và mô phỏng kịch bản.

 

Đối với việc xây dựng KHHĐTTX tại tỉnh Lâm Đồng, LUMENS được sử dụng để đánh giá tác động của tất cả các hành động can thiệp trong năm lĩnh vực ngoại trừ những lĩnh vực liên quan đến sản xuất và tiêu thụ năng lượng. Việc sản xuất và tiêu thụ năng lượng được đánh giá bằng các công cụ khác là Hệ thống quy hoạch các giải pháp năng lượng thay thế dài hạn (LEAP), Đường cong chi phí biên giảm phát thải (MACC) và Đo đạc-Liên hệ-Dự báo (MCP), thường được sử dụng để đánh giá năng lượng. Công cụ LUMENS đã được sử dụng để xây dựng và đánh giá KHTTX tại một số tỉnh ở Indonesia. Tại Việt Nam, Lâm Đồng có lẽ là tỉnh đầu tiên sử dụng công cụ này là một phần của sự xây dựng KHHĐTTX.

 

Hệ thống quy hoạch các giải pháp năng lượng thay thế dài hạn (LEAP)

Tại Việt Nam, ngành năng lượng đóng góp nhiều nhất vào phát thải khí nhà kính quốc gia. Vì vậy chiến lược giảm thiểu phát thải có thể tập trung nhiều hơn vào ngành này. Đối với Lâm Đồng, kiểm kê khí nhà kính trong ngành năng lượng có trong các hoạt động của tất cả các ngành trong tỉnh có sử dụng năng lượng gồm cả năm ngành khác (là nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, giao thông và quản lý tài nguyên nước), cũng như chế biến công nghiệp và quản lý chất thải như xử lý chất thải rắn trên đất, xử lý nước thải và đốt rác thải. Việc xây dựng kịch bản đường cơ sở khí nhà kính cho các nguồn năng lượng trên đã sử dụng Hệ thống quy hoạch các giải pháp năng lượng thay thế dài hạn (LEAP) làm công cụ đánh giá, việc xác định và phân tích các phương án giảm thiểu từ các nguồn trên được thực hiện bằng cách tiếp cận với Đường cong chi phí biên giảm phát thải (MACC) và Đo đạc-Liên hệ-Dự báo (MCP).

LEAP là một công cụ phần mềm được sử dụng rộng rãi để phân tích chính sách năng lượng và đánh giá giảm thiểu biến đổi khí hậu do Viện Môi trường Stockholm (SEI) phát triển. Nó đã được nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu và nhà phân tích cá nhân tại hơn 190 quốc gia trên toàn thế giới thông quá. Người dùng công cụ này gồm các cơ quan chính phủ, các học giả, các tổ chức phi chính phủ, các công ty tư vấn và các cơ sở năng lượng. Phần mềm này được miễn phí cho các nước đang phát triển. Một lợi thế khác là có sẵn tài liệu đào tạo bằng tiếng Việt và có một mạng lưới người dùng có thể trao đổi các vấn đề và giải pháp liên quan đến việc thực hiện LEAP.

Công cụ đánh giá này được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Các nhà hoạch định ngành năng lượng ở cấp quốc gia quen thuộc với LEAP hơn bất kỳ công cụ đánh giá năng lượng nào khác. Công cụ này được sử dụng trong Thông báo quốc gia đầu tiên và Thông báo quốc gia thứ hai cho UNFCCC để dự báo phát thải khí nhà kính và đánh giá các phương án giảm thiểu. Trong nghiên cứu gần đây “Hỗ trợ cho Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu với trọng tâm là năng lượng và giao thông” của Ngân hàng Phát triển châu Á, LEAP cũng được sử dụng cho các mục đích tương tự ở cấp quốc gia và cấp tỉnh.

 

Mô hình đánh giá thuỷ văn GenRiver

Việc định lượng lượng ẩm và lưu lượng ở cấp tỉnh được thực hiện bằng mô hình GenRiver (van Noordwijk và cộng sự, 2011). GenRiver là một mô hình dựa trên quy trình phân tán, có thể phân tích cân bằng nước từ cấp độ điểm đến cấp độ tiểu lưu vực. Mô hình chỉ ra sự thay đổi độ che phủ của đất ảnh hưởng đáng kể đến các chức năng của lưu vực thông qua sự thay đổi lượng mưa rơi trực tiếp xuống đất, lưu lượng dòng chảy mặt, dòng thấm trong đất, và tốc độ sử dụng nước của thực vật. Mô hình này coi một dòng sông là tổng của các dòng suối, mỗi dòng bắt nguồn từ một nhánh với đặc thù lượng mưa trung bình ngày, tỉ lệ các loại thảm phủ, diện tích và khoảng cách đến điểm cuối (hoặc điểm đo). Ở Việt Nam, mô hình này đã được sử dụng để đánh giá tác động của chuyển đổi sử dụng đất và bảo vệ rừng sản xuất và các kịch bản khác nhau cho vùng bờ biển bắc, nam và trung bộ (Pham và cộng sự, 2018, Catacutan và cộng sự, 2017). Lưu lượng dòng chảy sự kiến được chia thành dòng chảy kiệt, dòng chảy ngầm và dòng thấm trong đất.

 

Phân tích không gian

Tất cả các số liệu không gian thu được từ tỉnh đã được xử lý để đảm bảo tính thống nhất cả về phân loại thảm phủ đấy và hệ quy chiếu. Trong KHHĐTTX của Lâm Đồng, 32 loại thảm phủ đất đã được xem xét bao gồm các loại rừng khác nhau, cây hàng năm, cây lâu năm và các loại thảm phủ đất khác. Các hệ quy chiếu của tất cả các bản đồ đã được chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc tế cụ thể là WGS_1984_UTM_Zone_48N (hoặc Vùng 49N) và GCS_WGS_1984 là hệ tọa độ địa lý. Việc chuyển đổi này đảm bảo tất cả các bản đồ sẽ có sẵn để sử dụng trong tương lai với các phần mềm không gian khác nhau. Hơn nữa, tất cả các bản đồ có độ phân giải tương đối cao là 30 m x 30 m.

 

Phân tích kịch bản

Trong việc xây dựng KHHĐTTX của tỉnh Lâm Đồng, để hiểu được tác động tiềm tàng của các định hướng và can thiệp TTX đã được xây dựng đối với nền kinh tế và dịch vụ hệ sinh thái của tỉnh, hai kịch bản đã được xây dựng và so sánh là kịch bản tham chiếu (REF) và Kịch bản TTX. Việc so sánh đã được thực hiện cho giai đoạn 2020-2030 cả về đóng góp cho GRDP và cung cấp dịch vụ sinh thái. Trong trường hợp này, đặc biệt liên quan đến kết quả đánh giá của mô hình LUMENS, việc so sánh hai kịch bản và dự báo dựa trên xu hướng 2010 – 2015 (như mô tả ở phần II.4) được thực hiện.

1.      Kịch bản Tham chiếu (REF)

Trong kịch bản này, với LUMENS, thay đổi SDĐ/TP tạo cơ sở để ước tính việc cung cấp dịch vụ hệ sinh thái căn cứ cụ thể vào trong quy hoạch 2016-2020 của tỉnh liên quan đến sử dụng đất và có bản đồ. Sự khác biệt giữa phân bố SDĐ/TP năm 2015 và năm 2020 cụ thể do:

·                     Điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng năm 2016. Bản đồ này đã xem xét các chương trình đề xuất chính liên quan đến tỉnh Kế hoạch hành động REDD + (PRAP) được công bố trước đó.

·                     Bản đồ quy hoạch SDĐ/TP năm 2020 đã bao gồm quy hoạch không gian cho mạng lưới đường giao thông mới

·                                                               Bản đồ SDĐ/TP năm 2020 đã bao gồm quy hoạch không gian của các loại nông sản chính giai đoạn 2016-2020, cụ thể là

(1)                                                         Quy hoạch diện tích hệ thống cà phê-mác-ca

(2)                                                         Quy hoạch diện tích hệ thống chè-mác-ca

(3)                                                         Quy hoạch diện tích sản phẩm chè an toàn

(4)                                                         Quy hoạch diện tích rau an toàn

 

Từ khía cạnh kinh tế, theo các ưu tiên cụ thể được nêu trong phần III.4.2.2, và phạm vi đánh giá kinh tế tỉnh trong phần III.3.4, tác động đến kinh tế tỉnh trong kịch bản này chủ yếu là từ các ngành công nghiệp chế biến mới. Theo mô tả trong Phụ lục 5, các ngành công nghiệp chế biến liên quan đến tám loại hàng hoá là chè, cà phê, rau củ quả, hoa, sữa, mác-ca, cá nước lạnh, rượu vang và nước ép trái cây và gỗ. Tác động của các ngành công nghiệp chế biến mới này đến nền kinh tế tỉnh được tính toán bằng thông qua bảng cân đối liên ngành.

Đối với lĩnh vực năng lượng, kịch bản này bao gồm xu thế giai đoạn 2010-2015 và quy hoạch 2016-2020. Các dự báo 2021-2030 dưới kịch bản này được thực hiện dựa trên xu hướng 2010-2020. Dự báo này được so xánh với kịch bản TTX. Về phát thải khí nhà kính, kịch bản tham chiếu thể hiện quỹ đạo phát thải khí nhà kính mà không có chính sách can thiệp để kiểm soát hoặc giảm phát thải. Chỉ những chính sách và quy định có hiệu lực trước năm 2016 mới được xem xét. Đây cũng được coi là kịch bản „không làm gì cả“ vì nó phát thải được dự báo như thể không có hành động nào tiếp theo để quản lý và kiểm soát lượng phát thải sau năm 2016.

 

2.      Kịch bản Tăng trưởng xanh (TTX)

Kịch bản này bao gồm tất cả các định hướng và can thiệp TTX trong tất cả các ngành được nêu trong phần V dưới đây và so sánh với các ưu tiên cụ thể được nêu trong phần III.3.4, bao gồm 10 trong số 11 ưu tiên, ngoại trừ ngành công nghiệp chế biến mới đã được bao gồm trong kịch bản quy hoạch.

Đối với LUMENS Về mặt phân bố SDĐ/TP, sự khác biệt chính giữa phân bố SDĐ/TP trong kịch bản REF và TTX là do:

·                     Bao gồm quy hoạch hành lang đa dạng sinh học kết nối hai vườn quốc gia là Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà và Vườn quốc gia Cát Tiên

·                     Bao gồm quy hoạch bốn khu bảo tồn nêu trong Quyết định số 169/QĐ-SD về quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, bao gồm các khu vực bảo tồn được quản lý bởi Sở TNMT, Sở NNPTNT, UBND tỉnh và Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

·                     Bao gồm hệ thống trồng xen cà phê-cây ăn quả trong diện tích trồng cà phê hiện có, nhưng không chồng lấn với diện tích của hệ thống cà phê-mác-ca. Đây là một phần của định hướng và các can thiệp của ngành nông nghiệp, liên quan đến mục tiêu 30% diện tích trồng cà phê hiện có được chuyển đổi thành cà phê trồng xen.

·                     Bao gồm hệ thống trồng xen chè-cây ăn quả trong diện tích trồng chè hiện có. Theo Nghị quyết về chuỗi giá trị thị trường số 104/2018/NQ-HDND, vì lý do kinh tế, hiện nay nhiều nông dân đã chuyển đổi từ trồng chè sang trồng cây ăn quả. Xu hướng này gây ra tình trạng giảm nguồn cung chè cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Đây một phần của định hướng và can thiệp ngành nông nghiệp, liên quan đến mục tiêu 30% diện tích trồng chè hiện có được chuyển đổi thành chè trồng xen.

Từ khía cạnh kinh tế, theo các ưu tiên cụ thể và phạm vi đánh giá kinh tế tỉnh đã nêu, tác động đến kinh tế tỉnh trong kịch bản này chủ yếu là từ:

·                     Lợi nhuận từ hệ thống cà phê trồng xen và chè trồng xen có tiềm năng cao hơn so với độc canh. Điều này được thúc đẩy bởi hai yếu tố nông sản đa dạng hơn và chi phí sản xuất thấp hơn do hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng cao hơn nên hệ thống cần ít phân bón hơn.

·                     Lợi nhuận có tiềm năng cao hơn nhờ chuỗi giá trị thị trường mới cho cây ăn quả. Như Nghị quyết 104/2018/NQ-HĐND về chuỗi giá trị thị trường đã nhấn mạnh, thị trường cây ăn quả hiện đang bị chi phốibởi thương lái không có hợp đồng chính thức và xuất khẩu sang các nước khác như Trung Quốc. Giá thu mua theo các dạng hợp đồng này là không chắc chắn, phụ thuộc khả năng đàm phán của nông dân, và hợp đồng không chính thức cũng không đáng tin cậy. Do đó, nông dân cần thành lập một hợp tác xã và trở thành một phần của chuỗi giá trị-thị trường để đảm bảo giá cao hơn và ổn định hơn. Dự kiến ​​hợp tác xã và chuỗi giá trị-thị trường mới có thể tăng lợi nhuận ít nhất 10%.

·                     Lợi nhuận tiềm năng cao hơn từ nông sản có chứng nhận bằng cách tăng tỷ lệ nông sản, diện tích canh tác và các bên tham gia trong chuỗi giá trị, tham gia quy trình chứng nhận như VietGAP, GlobalGAP, các chứng chỉ hữu cơ, HACCP, ISO; và đối với cà phê là 4C, UTZ, Rainforest, để đảm bảo chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn và lợi nhuận tốt hơn. Dự kiến ​​các sản phẩm được chứng nhận có thể tăng lợi nhuận ròng ít nhất 10%.

·                     Lợi nhuận tiềm năng cao hơn từ việc tạo thương hiệu để nâng cao giá trị của các nông sản trong tỉnh cùng với sự cải thiện chất lượng sản phẩm do cải thiện quản lý và công nghệ. Thương hiệu được đề xuất hiện tại của tỉnh là "Đà Lạt - kết tinh kỳ diệu từ đất lành" dự kiến áp dụng trước hết cho các sản phẩm rau củ quả, hoa và cà phê Arabica. Như đã đề cập trước đó, trong đánh giá các định hướng và định hướng và can thiệp TTX cho Lâm Đồng, do không có đánh giá riêng biệt nào đối với cà phê Robusta và Arabica, việc xây dựng thương hiệu được giả định áp dụng cho cả hai loại cà phê. Nghị quyết số 104/2018/NQ-HĐND về chuỗi giá trị thị trường có nêu mức tăng giá trị giao dịch dự kiến ​​do ảnh hưởng của thương hiệu dự kiến ​​sẽ đạt ít nhất 15%.

Tác động của những can thiệp này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của hàng hóa hoặc việc sử dụng đất liên quan, và tiếp đó sẽ tác động đến ngành nông nghiệp và kinh tế tỉnh thông qua bảng cân đối liên ngành. Đối với lĩnh vực năng lượng, kịch bản TTX bao gồm tất cả các can thiệp được mô tả trong phần V về các định hướng và can thiệp TTX của tỉnh Lâm Đồng.

 

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÂM ĐỒNG - LAM DONG PORTAL
Cơ quan quản lý: Trung tâm Quản lý Cổng thông tin điện tử, thuộc Sở Thông tin & Truyền thông
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Viết Vân - Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: Số 36 Trần Phú, TP. Đà Lạt
Điện thoại: 0263.3545579 - Fax: 0263.3545455 - Email: bbt@lamdong.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.lamdong.gov.vn khi sử dụng thông tin trên website này
Thiết kế và phát triển bởi FSC việt Nam
 
ipv6 ready