TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG
Ước năm 2010
A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
I- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1. Tăng trưởng kinh tế:
Năm 2010 là năm cuối của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 theo Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Lâm Đồng lần thứ VIII đề ra; với mục tiêu phấn đấu hoàn thành và vượt mức kế hoạch năm 2010, cũng như các chỉ tiêu kế hoạch kinh tế- xã hội 5 năm 2006 – 2010, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, triển khai Nghị quyết 18/NQ-CP của Chính phủ “Về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5 % trong năm 2010”; ngay từ đầu năm tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các Sở, ngành, các địa phương cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của TW và tỉnh; thực hiện quyết liệt và đồng bộ các giải pháp thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất công nghiệp, du lịch và dịch vụ, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội gắn với nhiệm vụ tăng cường kiểm soát thị trường, bình ổn giá cả, chống đầu cơ, tăng giá, ngăn chặn lạm phát cao quay trở lại. Do đó, tuy còn gặp một số khó khăn nhất định do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; thời tiết nắng nóng, khô hạn và dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi nhất là dịch heo tai xanh xảy ra trên diện rộng và kéo dài, nhưng kinh tế Lâm Đồng nhìn chung đã phục hồi, tăng trưởng ở hầu hết các ngành, khu vực kinh tế; một số mặt xã hội có chuyển biến tích cực, nhất là trên lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, an ninh chính trị, trật tự xã hội cơ bản giữ vững.
Bảng 1: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP)
|
Ước thực hiện năm 2010 (Triệu đồng) |
So sánh 2010/2009 (%) |
1) Tổng sản phẩm (GDP) giá thực tế |
23.919.503 |
119,8 |
- Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản |
11.554.095 |
119,2 |
- Khu vực công nghiệp-xây dựng |
4.778.754 |
120,4 |
- Khu vực dịch vụ |
7.586.654 |
120,4 |
2) Tổng sản phẩm (GDP) giá SS 1994 |
11.923.978 |
113,3 |
- Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản |
6.068.975 |
111,3 |
- Khu vực công nghiệp-xây dựng |
3.060.914 |
113,2 |
- Khu vực dịch vụ |
2.794.089 |
118,1 |
Ước năm 2010, tổng sản phẩm theo giá SS 1994 đạt 11.923,98 tỷ đồng, tăng 13,3% so với năm 2009. Nhìn chung năm 2010 nền kinh tế Lâm Đồng đã ổn định và phục hồi tăng trưởng ở hầu hết các ngành; mức tăng trưởng năm 2010 cao hơn tốc độ tăng năm 2009 (năm 2009 tăng 12,6% so năm 2008).
- Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2010 đạt 6.068,9 tỷ đồng, tăng 11,3% vượt kế hoạch đề ra (kế hoạch tăng từ 9-10%), tăng cao hơn so năm 2009 (năm 2009 tăng 9,5%). Đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 50,89%) trong GDP, có tốc độ tăng ổn định và đóng góp 5,8% trong mức tăng trưởng chung 13,3% của GDP. Trong đó, ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 97,68%) trong giá trị tăng thêm của khu vực I và chiếm 49,72% GDP toàn tỉnh, đạt tốc độ tăng 11,2% (tăng cao hơn mức tăng 9,3% của năm 2009) do tăng sản lượng cà phê, rau và hoa; tăng trưởng ngành nông nghiệp đã đóng góp 5,7% trong GDP. Hai ngành lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng nhỏ (2,31%), tăng trưởng khá so năm trước (lâm nghiệp tăng 11,1% và thuỷ sản tăng 15,7%).
- Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục ổn định và tăng trưởng khá, chủ yếu do công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và đầu tư xây dựng tăng cao; riêng ngành sản xuất-phân phối điện, nước tăng chậm (tăng 1,4%) so năm 2009 do thời tiết khô hạn kéo dài trong những tháng đầu năm làm giảm đáng kể sản lượng và giá trị các nhà máy thuỷ điện trên địa bàn. Năm 2010, khu vực II ước đạt 3.060,91 tỷ đồng, chiếm 25,67% trong GDP, tăng 13,2% so năm 2009, chưa đạt kế hoạch đề ra (kế hoạch tăng 17,5-18,5%); là khu vực có tốc độ tăng nhưng chậm so những năm qua (năm 2009 tăng 14,0%); tăng trưởng khu vực II đã đóng góp 3,4% trong mức tăng chung của GDP (trong đó, công nghiệp đóng góp 2,1%, xây dựng đóng góp 1,3%). Trong khu vực II, ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 39,49%) có tốc độ khá (tăng 17,9% so 2009); ngành xây dựng chiếm 18,55%, tăng mạnh ( tăng 30,4%) so cùng kỳ do kết quả đầu tư mới một số nhà máy thuỷ điện trên địa bàn và tổ hợp Bauxit ở Bảo Lâm .
- Khu vực dịch vụ chiếm 23,43% GDP, đạt 2.794,09 tỷ đồng tăng 18,1% so cùng kỳ, tăng thấp hơn so tốc độ năm 2009 ( năm 2009 tăng 18,8% so 2008); trong đó ngành vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc tăng mạnh ( tăng 30,1% so năm 2009) do khai thác hiệu quả đường bay Đà Lạt-Hà Nội và mở thêm đường bay Đà Lạt-Đà Nẵng. Ngoài hãng hàg không Việt Nam Airline từ tháng 11/2010 đã có thêm hãng hàng không Air Mekong tham gia khai thác đường bay Đà Lạt- Hà Nội.Khu vực dịch vụ tăng trưởng đóng góp 4,1% trong mức tăng chung của nền kinh tế.
Theo giá thực tế, tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh đạt 23.919,5 tỷ đồng, tăng 19,8% so năm 2009; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 11.554,09 tỷ, tăng 19,2%; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 4.778,75 tỷ đồng, tăng 20,4% và khu vực dịch vụ đạt 7.586,65 tỷ đồng tăng 20,4% so năm 2009. Tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh năm 2010 theo giá thực tế tăng cao hơn giá so sánh 1994 chủ yếu do giá cả thị trường tiếp tục tăng so năm trước (mức độ tăng nhanh hơn năm 2009), nhất là giá nguyên liệu đầu vào của một số ngành sản xuất như xăng dầu, vật liệu xây dựng, phân bón và giá một số nông sản tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ước năm 2010 tăng trên 8,39% so năm 2009.
Năm 2010, tốc độ tăng GDP cao hơn tốc độ tăng dân số (dân số trung bình năm 2010 ước 1.201,3 ngàn người, tăng 1,0% so năm 2009) nên GDP bình quân đầu người tiếp tục tăng lên. GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 19,9 triệu đồng/người/năm, tăng 3,13 triệu đồng so năm 2009.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Năm 2010, do tiếp tục triển khai đầu tư các chương trình mục tiêu, công trình trọng điểm của tỉnh nên tốc độ tăng khu vực II và khu vực III nhanh hơn khu vực I, với mức đóng góp vào tăng trưởng GDP của khu vực II và III là 7,5% cao hơn 1,7% mức đóng góp khu vực I (đóng góp 5,8%) đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế (tuy mức độ chậm) theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực I, tăng dần tỷ trọng khu vực II và khu vực III. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực I giảm 0,3%, từ 48,6% năm 2009 xuống còn 48,3% năm 2010; tỷ trọng khu vực II tăng 0,1% từ 19,9% năm 2009 tăng lên 20% năm 2010 và khu vực III từ 31,5% năm 2009 tăng lên 31,7% năm 2010, tăng 0,2% so năm 2009.
Tuy cơ cấu kinh tế Lâm Đồng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực song khu vực I vẫn chiếm tỷ trọng cao và chi phối quyết định đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Lâm Đồng trong nhiều năm nữa.
II- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong năm 2010, tiếp tục phát triển theo hướng công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả cây trồng, vật nuôi; các sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh như rau, hoa, chè, cà phê sản xuất và tiêu thụ khá, giá cả tiếp tục ổn định ở mức cao tạo điều kiện cho người sản xuất tích cực đầu tư, thâm canh. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp trong năm 2010 cũng bị tác động bất lợi từ yếu tố thời tiết khô hạn kéo dài, dịch bệnh rầy nâu, xoắn lá trên cây trồng, dịch tai xanh trên đàn heo xảy ra ở một số địa phương trong tỉnh. Tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung đẩy mạnh sản xuất, khắc phục khó khăn, đặc biệt tập trung cho công tác kiểm soát, khoanh vùng dịch heo tai xanh, tiêu huỷ và hỗ trợ kịp thời cho các hộ chăn nuôi ổn định sản xuất vì vậy kết quả sản xuất nông nghiệp cả năm 2010 ổn định và tăng trưởng so cùng kỳ 2009. Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá CĐ 1994, ước năm 2010 đạt 11.981,68 tỷ đồng, chiếm 51,6% tổng giá trị sản xuất và tăng 9,5% so năm 2009.
1- Sản xuất nông nghiệp:
1.1. Trồng trọt:
Dự ước cả năm 2010, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 114.461 ha, bằng 99,86% so năm 2009 và đạt 101,6% kế hoạch năm. Sản lượng lương thực có hạt đạt 22.085 tấn, giảm 3,69% (giảm 8.442 tấn) so năm 2009, trong đó sản lượng lúa giảm 1,17% (giảm 1.763 tấn) và sản lượng ngô giảm 8,58% (giảm 6.679 tấn), giảm do dịch ốc bưu vàng và dịch rầy nâu, trên 16.000 ha lúa ở một số địa phương; trong có khoảng 576 ha lúa bị mất trắng và thu hẹp diện tích ngô (-1.679 ha) do giảm diện tích trồng xen và chuyển đổi sang cây trồng khác. Diện tích lúa gieo trồng cả năm ước đạt 33.814 ha, đạt 102,83% kế hoạch, tăng 1,49% so cùng kỳ; năng suất bình quân đạt 44,04 tạ/ha, giảm 1,18 tạ/ha; sản lượng lúa cả năm ước đạt 148.916 tấn, giảm 1.763 tấn so năm 2009. Ngô cả năm gieo trồng đạt 16.207 ha, đạt 82,97% KH, bằng 90,61% so năm trước; năng suất bình quân đạt 43,91 tạ/ha, tăng 0,89 tạ/ha; sản lượng đạt 71.169 tấn, giảm 6.679 tấn so năm trước. Diện tích các loại cây chất bột ước đạt 5.496 ha, bằng 98,58% so với kế hoạch, giảm 11,81% (-736 ha) so cùng kỳ 2009. Diện tích cây thực phẩm ước thực hiện 46.644 ha, đạt 101,51% KH, tăng 1,08% (+500 ha) so năm 2009; trong đó cây rau các loại diện tích đạt 43.770 ha, đạt 101.9% so kế hoạch, tăng 1,31% so cùng kỳ; năng suất rau bình quân đạt 286,79 tạ/ha, giảm 0.97 tạ/ha; sản lượng rau đạt 1.255.300 tấn, đạt 99,89% kế hoạch, tăng 0,92% so năm trước. Diện tích cây công nghiệp hàng năm ước thực hiện 1.450 ha, đạt 32,14% so với kế hoạch, bằng 91,89% ( - 128 ha) so với năm 2009. Diện tích cây hàng năm khác ước đạt 10.842 ha, bằng 98,28% so với kế hoạch, tăng 14,9% (+ 1.406 ha) so với cùng kỳ; trong đó cây hoa các loại đạt 5.156 ha tăng 20,95% (+ 893 ha) so với cùng kỳ năm 2009.
Chia theo mùa vụ:
Vụ Đông xuân tổng diện tích gieo trồng 29.379 ha, tăng 5,98% so cùng kỳ 2009; lúa gieo cấy 10.771 ha, đạt 104,35% KH, tăng 5,96% (+605 ha) so với cùng kỳ 2009, năng suất lúa bình quân đạt 44,6 tạ/ha, giảm 5,4 tạ/ha do dịch rầy nâu, vàng lùn, xoắn lá xuất hiện ở 3 huyện phía Nam và Đam Rông với diện tích bị nhiễm trên 3.885 ha ( mất trắng 576,3 ha), sản lượng lúa đạt 48.065 tấn, tăng 0,23% so cùng kỳ năm trước chủ yếu do tăng diện tích. Cây rau các loại gieo trồng 13.420 ha, tăng 1,46%, tập trung vùng chuyên canh như Đà Lạt 2.705 ha chiếm 20,2%, Đơn Dương 5.629 ha, chiếm 41,9%, Đức Trọng 3.439 ha, chiếm 24,7%; sản lượng rau đạt 390.263 tấn, tăng 1,56% so cùng kỳ. Cây hoa các loại gieo trồng 2.041 ha, tăng 27,1% so cùng kỳ, tập trung ở Đà Lạt 1.280 ha chiếm 62,7%; Đức Trọng 620 ha, chiếm 30,4%; Lạc Dương 103 ha, chiếm 5%.
Vụ Hè thu tổng diện tích gieo trồng 40.029 ha, bằng 97% so cùng kỳ do nắng hạn kéo dài làm thiếu nước tưới nên một số cánh đồng không gieo cấy được; trong đó lúa 5.925 ha, bằng 94,36% KH, giảm 5,9% so cùng Vụ năm 2009, năng suất bình quân đạt 41,6 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha, sản lượng đạt 24.658 tấn, giảm 8% so cùng kỳ. Cây rau gieo trồng đạt 15.722 ha, tăng 2,4% so cùng kỳ do tăng hệ số sử dụng đất bằng việc sử dụng các giống rau ngắn ngày hiệu quả cao và chuyển đổi một số diện tích kém hiệu quả cây trồng khác sang trồng rau. Cây hoa các loại gieo trồng 1.485 ha, tăng 21,4% so cùng kỳ; chủng loại hoa phong phú tập trung chủ yếu như cẩm chướng, cúc, layơn, đồng tiền, loa kèn, vạn thọ ...
Vụ Mùa, tổng diện tích gieo trồng được 45.053 ha cây hàng năm các loại, giảm 1,26% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích lúa 17.118 ha, đạt 103,34% kế hoạch cả vụ và tăng 1,58% cùng kỳ (tăng 266 ha), do một số địa phương tận dụng đất trồng rừng 30ª. Cây ngô gieo trồng 3.309 ha, đạt 81,60% kế hoạch vụ giảm 12,13% (- 457 ha) so với cùng kỳ, giảm do một phần diện tích ngô trồng xen trong các vườn cây lâu năm khi cây đã khép tán nên không trồng được nữa, bên cạnh đó một số diện tích gieo trồng đã chuyển đổi sang trồng cây khác có giá trị cao hơn, trong đó phần lớn là chuyển qua trồng cây cà phê.
Các loại cây tinh bột gieo trồng 3.931 ha, giảm 11,48%(-811 ha) so với cùng kỳ, trong đó: khoai lang 1.087 ha chiếm 27,64%, giảm 10,17%(-123 ha) so cùng kỳ, chủ yếu được tập trung ở ba huyện Đơn Dương , Đức Trọng, Lâm Hà; cây sắn 2.590 ha chiếm 65,88%, đạt 108,14% KH vụ, giảm 5,44% (-149ha) so cùng kỳ do giá cả không ổn định.
Rau các loại gieo trồng 14.628 ha, giảm 2,43% (-365 ha) so cùng kỳ. Trong đó rau gieo trồng gồm một số chủng loại như: cải bắp, cà chua, cà rốt, ớt ngọt, salas, cải thảo, bó xôi… Cây rau trồng tập trung tại các vùng trồng rau trọng điểm của tỉnh như: Đà Lạt, Đức Trọng, Đơn Dương và Lạc Dương với diện tích 13.719 ha. Diện tích giảm chủ yếu do ảnh hưởng của thiên tai từ việc xả lũ đập Đa Nhim và mưa lớn kéo dài trong các ngày từ 30/10 đến 03/11/2010 tại một số xã của huyện Đơn Dương, Đức Trọng và TP. Đà Lạt làm ngập và hư hỏng một số diện tích rau màu, trong đó diện tích rau bị hư hỏng là 748 ha tại một số xã của huyện Đơn Dương và Đức Trọng.
Hoa các loại 1.630 ha, tăng 19,06% (+261 ha) so cùng kỳ, diện tích hoa tăng tập trung chủ yếu ở thành phố Đà Lạt với diện tích 947 ha tăng 34,34% (+222 ha) so cùng kỳ. Hoa cúc gieo trồng 439 ha chiếm 28,09%, glayơn 464 ha chiếm 29,69%, hoa hồng 336 ha chiếm 21,5%, còn lại các loại khác 623 ha chiếm 39,86%.
* Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm ước năm 2010 có 199.022 ha, đạt 100,82% kế hoạch, tăng 1,73% (+3.375 ha) so năm 2009. Trong đó cây công nghiệp đạt 185.464 ha, chiếm 93,19%, tăng 1,43% (+2.613 ha); cây ăn quả 10.555 ha, chiếm 5,3%, tăng 3,89% (+395 ha); cây lâu năm khác 3.003 ha, chiếm 1,51%, tăng 13,92% (+367 ha).
Diện tích cà phê ước 2010 thực hiện 142.852 ha, đạt 103,49% kế hoạch, tăng 1,24% (+1.752 ha), sản lượng cà phê thu hoạch ước đạt 328 ngàn tấn, tăng 7,71% (+23.481 tấn) so niên vụ trước. Diện tích chè 23.557 ha, đạt 96,91% kế hoạch, giảm 1,44% (-343 ha), sản lượng chè búp tươi ước đạt 202 ngàn tấn, tăng 17,56% (+ 30.150 tấn) so năm trước; điều 15.358 ha, đạt 94,74% kế hoạch, giảm 5,26%, sản lượng thu hoạch ước đạt 8,8 ngàn tấn, tăng 86,41% so năm trước. Riêng cây cao su có chiều hướng phát triển, diện tích đạt 2.290 ha, tăng 46,23% so cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm 823 ha, tăng 148 ha; Đạ Tẻh 935 ha, tăng 548 ha; Đạ Huoai 672 ha, tăng 235 ha; Đơn Dương 285,7 ha. Diện tích cao su cho sản phẩm ước đạt 20 ha, sản lượng đạt 29 tấn, tăng 141,67% so cùng kỳ.
Cây ăn quả hiện có 10.555 ha, trong đó: sầu riêng 3.417 ha, tăng 0,35%(+12 ha), diện tích cho sản phẩm 2.689 ha, sản lượng đạt 15.585 tấn, tăng 3,8%(+569 tấn) so năm 2009; cây hồng 2.177 ha, giảm 7,5%(-178 ha) so với cùng kỳ, sản lượng đạt 25.266 tấn, giảm 8,9%(-2.435 tấn); giảm chủ yếu do giá cả không ổn định nên nhiều hộ nông dân đầu tư hạn chế làm ảnh hưởng đến năng suất hoặc phá bỏ để chuyển đổi sang cây trồng khác có hiệu quả hơn. Các cây ăn quả khác như mít, chuối , bơ, dứa ... đều tăng về diện tích, năng suất và sản lượng so năm trước.
Cây lâu năm khác 3.003 ha, trong đó chủ yếu là cây dâu tằm với diện tích hiện có 2.962 tăng 13,92%(+362 ha) so với năm 2009, năng suất đạt 123,.3 tạ/ha, sản lượng đạt 33.292 tấn, tăng 33,34%(+8.334 tấn) so năm 2009. Nguyên nhân tăng do giá kém tăng cao từ (90.000-100.000 đ/kg/kén) và giá lá dâu tăng từ 4.500-5.000đ/kg nên nhiều hộ nông dân đầu tư và mở rộng diện tích.
* Trồng mới và chuyển đổi cây công nghiệp lâu năm: Ước tính đến 10/12/2010, tổng diện tích trồng mới và chuyển đổi cây công nghiệp lâu năm đạt 3.687 ha, tăng 7,13% (+286 ha) so cùng kỳ. Trong đó:
Diện tích chè được trồng mới chuyển đổi 270 ha, tăng 4,65% (+12 ha) so năm 2009. Trong đó thành phố Đà Lạt trồng mới chuyển đổi 48 ha, Lâm Hà 20 ha, Di Linh 8 ha, Bảo Lâm 169 ha, Bảo Lộc 10 ha, Đạ Huoai 15 ha.
Cà phê trồng mới, chuyển đổi 2.004 ha, giảm 13,7% (-35 ha) so cùng kỳ. Trong đó: Đam Rông trồng mới chuyển đổi 368 ha, Lâm Hà 390 ha, Bảo Lâm 495 ha, Bảo Lộc 127 ha, Lạc Dương 142, Đà Lạt 166 ha,... Diện tích cà phê trồng mới và chuyển đổi chủ yếu từ diện tích cây trồng khác kém hiệu quả và chuyển đổi diện tích cà phê cằn cỗi, năng suất thấp sang trồng giống mới năng suất cao theo đề án phát triển KT-XH nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ và địa phương.
Cây Ca cao trồng mới trong năm đạt 684 ha, tăng hơn 4,56 lần (+526 ha) so cùng kỳ. Tăng mạnh chủ yếu tập trung ở các huyện Đạ Huoai 437 ha, Đạ Tẻh 50 ha và Cát Tiên 193 ha, do thị trường tiêu thụ hiện nay khá thuận lợi.
Cây cao su: Những năm gần đây do nhu cầu thị trường ngày càng phát triển, giá cao su ngày càng tăng nên các doanh nghiệp, các nhà đầu tư không ngừng đầu tư mở rộng diện tích tại các địa phương có điều kiện phù hợp; tỉnh Lâm Đồng đã có chủ trương chuyển một số rừng nghèo kiệt vào trồng và phát triển cây cao su. Diện tích cây cao su trồng mới 724 ha, tăng 69,55% (+297ha) so cùng kỳ, tập trung ở Đạ Tẻh 300 ha, Đạ Huoai 236 ha, Bảo Lâm 150 ha.
Các loại cây ăn quả trồng mới và chuyển đổi 889 ha, tăng 3,54 lần (+638 ha) so cùng kỳ, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm 302 ha, Đạ Huoai 222 ha, Lâm Hà 101 ha, Cát Tiên 78 ha.
Diện tích dâu tằm trồng mới chuyển đổi 362 ha, tăng 11,38% (+37 ha), chủ yếu tập trung ở huyện Lâm Hà 330 ha, Bảo Lộc 20 ha. Do giá kén tăng và ổn định ở mức trên 90 ngàn đồng/kg nên nhiều hộ nông dân đầu tư trồng mới nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu cung cấp để nuôi tằm.
* Tình hình sâu hại, dịch bệnh trên cây trồng:
Dịch ốc bưu vàng xuất hiện ảnh hưởng trên 3.000 ha lúa vụ Hè thu, với mật độ 4-40 con /m2, nặng nhất là ở huyện Di Linh và Đức Trọng. Trên địa bàn các huyện: Lâm Hà, Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Huoai có trên 800 ha lúa bị dịch sâu cuốn lá. Do điều kiện thời tiết nóng, ẩm dịch rầy nâu xuất hiện và tiếp tục lan rộng làm ảnh hưởng trên 13.044 ha lúa tập trung ở Dơn Dương 3.200 ha, Đức Trọng 3.597 ha, Di Linh 1.972 ha, Lâm Hà 1.750 ha, Đạ Tẻh 1.782 ha (có 550 ha bị tiêu huỷ), Cát Tiên 666 ha ..., trong đó có 1.286 ha bị nhiễm nặng. Chi cục Bảo vệ thực vật hiện đang phối hợp với các trung tâm nông nghiệp huyện chỉ đạo, hướng dẫn biện pháp phòng trừ, phun xịt thuốc đến các hộ nông dân để hạn chế thiệt hại. Các loại sâu bệnh dịch hại khác trên cây cà phê như ấu trùng ve sầu nhiễm trên 17.520 ha, bị rệp các loại 23.166 ha, 16.291 ha bị bệnh vàng lá. Cây chè bị bọ xít muỗi 9.611 ha, rầy xanh 7.819 ha. Ngoài ra có trên 600 ha rau, hoa bị nhiễm sâu tơ và nấm.
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của thời tiết nắng hạn đã gây mất trắng 70 ha lúa Hè thu ở huyện Cát Tiên. Trên địa bàn thành phố Đà Lạt trong những ngày cuối tháng 6/2010 và trung tuần tháng 8/2010, mưa lớn và lốc xoáy đã gây thiệt hại 12 ha hoa màu, gần 3,5 ha nhà ni lông dùng cho sản xuất rau bị đổ, ước tính tổng thiệt hại trên 3,275 tỷ đồng.
1.2. Chăn nuôi:
Tình hình chăn nuôi trong năm có nhiều biến động so năm trước, nhất là đàn heo do ảnh hưởng của dịch heo tai xanh xảy ra trên diện rộng trong cả nước và một số địa phương trong tỉnh.
Theo kết quả điều tra thời điểm 1/10/2010, tổng số trâu hiện có 18.996 con so thời điểm 1/10/2009 tăng 0,69% (+131 con). Số lượng trâu tập trung chủ yếu ở Đức Trọng 5.929 con, chiếm 31,2%; Đơn Dương 3.731 con, chiếm 19,7%; Lạc Dương 2.681 con, chiếm 14,1%; Đạ Tẻh 2.570 con, chiếm 13,5%,Cát Tiên 1.767 con, chiếm 9,3% và Di Linh 1.118 con, chiếm 5,9% tổng đàn.
Tổng đàn bò hiện có (thời điểm 1/10/2010) là 73.694 con, giảm 2,47% (-1.866 con) so cùng kỳ. Do ảnh hưởng của dịch heo tai xanh nên nhu cầu tiêu dùng thịt heo giảm; người tiêu dùng có xu hướng chuyển tiêu dùng thịt bò nhiều hơn; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 5.856,2 tấn, tăng 2,5% (140,2 tấn) so cùng kỳ, làm cho số lượng bò giảm. Địa phương có số lượng bò lớn vẫn là các huyện Đơn Dương 22.037 con, chiếm 29,9%; Đức Trọng 12.826 con, chiếm 17,4%; Cát Tiên 6.199 con, chiếm 8,4%; Lâm Hà 4.673 con, chiếm 6,3%, Đạ Tẻh 4.587 con, chiếm 6,2%. Trong tổng số thì bò lai có 22.600 con, chiếm 30,6% tổng đàn. Do giá sữa tươi trong năm phù hợp và tăng hơn so với những năm trước đây, bên cạnh đó một số nhà máy chế biến sữa được xây dựng trên địa bàn chăn nuôi bò tập trung, việc tiêu thụ sữa tươi có nhiều thuận lợi cho hộ chăn nuôi và sản xuất có lãi, đã khuyến khích hộ chăn nuôi tích cực mở rộng đầu tư, số lượng bò sữa hiện có 3.270 con chiếm 4,4%, tăng 15,4% (437 con) so thời điểm 1/10/2009.
Số lượng heo thời điểm 1/10/2010 có chững lại và hạn chế phát triển so với mức tăng chung bình quân hàng năm ở những năm trước. Tổng số heo tại thời điểm 1/10/2010 toàn tỉnh đạt 336.463 con tăng 0,4% (tăng 1.332 con) so thời điểm 1/10/2009. Nhìn chung tình hình chăn nuôi heo từ đầu năm đến nay biến động thất thường, trong 6 tháng đầu năm 2010 đàn heo trên địa bàn toàn tỉnh phát triển mạnh tăng nhanh về số lượng; tại thời điểm 1/4/2010 đàn heo (không tính heo sữa) toàn tỉnh có 351.297 con, tăng 4,8% (+16.166 con) so thời điểm 1/10/2009. Do trong tháng 7/2010 dịch heo tai xanh bùng phát mạnh tại Cát Tiên, Đạ Tẻh và một số vùng thuộc huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lộc, Bảo Lâm cũng đã xuất hiện dịch và một số bệnh khác làm ảnh hưởng đến tình hình chăn nuôi, nhiều hộ chăn nuôi giảm đầu tư hạn chế phát triển đàn heo; đến thời điểm 1/10/2010 đàn heo toàn tỉnh còn 336.463 con, giảm 4,2% (-14.834 con) so với thời điểm 1/4/2010.Trong tổng đàn heo, heo nái có 40.327 con chiếm 11,2% tổng đàn, giảm 0,3% so với thời điểm 1/4/2010. Sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng tính trong năm đạt 47.676 tấn, tăng 0,5% (238,4 tấn) so cùng kỳ, số con lợn thịt xuất chuồng 616.815 con, trọng lượng bình quân xuất chuồng đạt 77,3 kg/con.
Tổng số gia cầm hiện có 2,95 triệu con, tăng 12,65% (tăng 330 nghìn con) so thời điểm 1/10/2009; trong đó gà chiếm 79% tổng đàn gia cầm, các loại gia cầm khác còn lại chiếm 21%. Tổng đàn gà hiện có 2.327,9 nghìn con, tăng 7,94% (+171,3 nghìn con) so cùng thời điểm năm trước. Trong tổng số; gà nuôi lấy thịt hiện có 1.596,1 nghìn con, chiếm 68,56%; gà đẻ 731,8 nghìn con, chiếm 31,44% tổng đàn; trong đó gà nuôi công nghiệp 880,3 nghìn con, chiếm 37,82% tổng đàn gà hiện có (nuôi lấy thịt 396,2 nghìn con, chiếm 45,0%; gà đẻ 484,1 nghìn con, chiếm 55,0% tổng đàn gà nuôi công nghiệp).
Số gà xuất chuồng trong năm 3.478,8 nghìn con (tỷ lệ xuất 2,2 lần trong năm trên đàn gà thịt), sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6.936,8 tấn, bình quân một con xuất chuồng đạt 2,0 kg/con, trong đó gà công nghiệp đạt 2,2 kg/con.
Các loại gia cầm khác có phát triển nhưng không đáng kể: vịt, ngan, ngỗng 167,62 nghìn con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong năm đạt 412,5 tấn, sản lượng trứng 1.591,1 nghìn quả; chim cút 320,7 nghìn con, sản lượng thịt hơi thu trong năm đạt 37,4 tấn, sản lượng trứng 38.133 nghìn quả; … Tình hình chăn nuôi khác như ngựa, dê, cừu, ong, thỏ, kén tằm cũng được người sản xuất duy trì với nhiều mô hình, quy mô nhỏ nhằm tận dụng điều kiện sẵn có ở từng vùng, địa phương.
* Tình hình dịch bệnh: Tình hình dịch bệnh trong năm 2010 không xảy ra đối với đàn gia cầm. Tuy nhiên đối với gia súc, dịch heo tai xanh đã xuất hiện với diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến người nuôi heo trên địa bàn tỉnh; đặc biệt tại huyện Cát Tiên, dịch heo tai xanh xảy ra tại hầu hết các xã, thị trấn của huyện Cát Tiên, với tổng số 18.467 con bị dịch, chiếm trên 70% tổng đàn heo của huyện, huyện đã tiến hành tiêu huỷ 18.376 con. Một số địa phương khác trong tỉnh cũng xuất hiện dịch (Đức Trọng, Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Đạ Tẻh ...) với tổng số 2.040 con mắc bệnh. Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp UBND tỉnh đã khẩn trương chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung chống dịch và phòng ngừa lây lan bằng nhiều biện pháp như tăng cường giám sát diễn biến dịch và xử lý kịp thời gia súc mắc bệnh, quản lý chặt chẽ việc xuất nhập gia súc ra vào tỉnh, tiêu huỷ toàn bộ nếu trong đàn có heo mắc bệnh; tiến hành khoanh vùng, phun thuốc khử trùng đối với các vùng bị dịch; đồng thời hỗ trợ 17.500 đồng/kg cho số lượng heo tiêu huỷ góp phần hạn chế thiệt hại đối với các hộ chăn nuôi.
2- Lâm nghiệp:
2.1. Lâm sinh:
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2010 các đơn vị chủ rừng trồng mới rừng tập trung được 4.740 ha, đạt 128,25% kế hoạch, tăng 109,39% (407 ha) so cùng kỳ. Trong đó nguồn vốn ngân sách tỉnh đầu tư 584,7 ha; dự án 661 là 1.020,6 ha, chương trình 30a là 1.288,9 ha, khoán theo 135 là 80 ha, và vốn ODA là 722 ha. Diện tích rừng trồng bao gồm: 1.902 ha keo lai, 264,5 ha keo lá tràm, 1.340 ha thông 3 lá, còn lại 189 ha các loại khác. Nguồn vốn ngoài ngân sách và hỗ trợ trồng rừng sản xuất là 1.044 ha, trong đó: trồng rừng trên đất trống và thông 09 là 321,12 ha; trồng rừng kinh tế trên diện cải tạo rừng nghèo kiệt là 727,63 ha. Ngoài việc trồng rừng tập trung, công tác trồng cây phân tán phục hồi cảnh quan, môi trường được các cấp chính quyền quan tâm, tính từ đầu năm đến nay các địa phương trong tỉnh đã trồng được 1.738,4 nghìn cây phân tán các loại tăng gấy 5 lần so với cùng kỳ năm 2009.
Công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng: Từ các nguồn vốn khác nhau đã giao khoán quản lý bảo vệ cho 19.148 hộ thuộc diện nhận khoán (có trên 14 ngàn hộ đồng bào dân tộc chiếm 73,11%); diện tích giao khoán 351.936 ha, đạt 99,92% KH, so cùng kỳ tăng 4,8% (+16.150 ha); trong đó vốn ngân sách tỉnh 126.618 ha/5.225 hộ, dự án 661 giao 61.647 ha/3.239 hộ, theo quyết định 304 giao khoán 12.992 ha/611 hộ, dự án Flitch 21.408 ha/947 hộ, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 113.043 ha/6.507 hộ, hưởng lợi từ chương trình 178 là 1.973 ha/521 hộ, khoán theo chương trình 135 là 3.835 ha/1.304 hộ, thiết kế mới theo NQ 30a 9.670 ha/764 hộ. Nhìn chung công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng từng bước được cải thiện, đời sống thu nhập của người nhận khoán quản lý bảo vệ rừng được đáp ứng, góp phần giảm thiểu số vụ vi phạm lâm luật, tài nguyên rừng ngày một nâng lên tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất được phát triển bền vững gắn với môi trường.
Công tác chăm sóc rừng trồng, nuôi dưỡng rừng, đốt dọn vật liệu cháy, … được thực hiện theo đúng kế hoạch. Đến nay công tác chăm sóc rừng trồng thực hiện 4.150 ha rừng các loại, tăng 1,07% so cùng kỳ năm 2009.
2.2. Khai thác lâm sản:
Năm 2010 tổng khối lượng gỗ khai ước thực hiện đạt 95.700 m3 gỗ tròn các loại, tăng 6,44% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó rừng tự nhiên là 74.715 m3 tăng 2,1% so với cùng kỳ; khai thác rừng trồng là 20.985 m3 tăng 25,4% so với cùng kỳ. Trong tổng số gỗ khai thác thì kinh tế Nhà nước khai thác 89.350 m3 gỗ tròn các loại (tính cả gỗ keo nguyên liệu), cá thể là 4.650 m3, tư nhân là 1.700 m3. Tre nứa, lồ ô các loại khai thác 5.080 nghìn cây, tăng 0,08% so cùng kỳ. Các loại lâm sản khác như: Tre nứa giấy 350 tấn, tăng 12,18%; củi thước 210.150 Ster, bằng 99,88% so cùng kỳ.v.v.
2.3. Tình hình vi phạm lâm luật:
Tình hình vi phạm lâm luật có chiều hướng giảm rõ rệt; tính từ đầu năm đến hết tháng 11/2010 tổng số vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn tỉnh bị cơ quan chức năng lập biên bản 1.901 vụ, giảm 13,9% (-307 vụ) so cùng kỳ năm trước, trong đó: phá rừng trái phép 570 vụ, giảm 21,49% (-156 vụ), diện tích rừng bị phá 240 ha, giảm 52,5% (-265,3 ha) so với cùng kỳ; vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản trái phép 397 vụ, giảm 21,1% (-106 vụ) so cùng kỳ. Vận chuyển mua bán trái phép lâm sản, động vật rừng 827 vụ, giảm 6,1% (-54 vụ) so với cùng kỳ. Lâm sản thu qua xử lý vi phạm: Gỗ tròn các loại 1.529,6 m3; gỗ xẻ các loại 1.220,3 m3 và nhiều lâm sản khác.Thu nộp ngân sách 10,7 tỷ đồng, trong đó tiền bán lâm sản, phương tiện tịch thu 7,75 tỷ đồng.
3- Thủy sản:
Là tỉnh vùng núi cao nên hoạt động sản xuất thủy sản chủ yếu là nuôi thuỷ sản nước ngọt quy mô nhỏ, phát triển trên diện tích mặt nước tận dụng và chủ yếu phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống gia đình. Trong vài năm gần đây, nuôi cá nước lạnh được phát triển ở huyện Lạc Dương, thành phố Đà Lạt và một số vùng lân cận đạt hiệu quả kinh tế tương đối cao; tuy nhiên, việc mở rộng quy mô còn gặp nhiều khó khăn.
Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh hiện có 3.113,1 ha, tăng 12,88% (+355,3 ha) so năm 2009. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2010 đạt 6.233,8 tấn, tăng 6,97% (+406,2 tấn) so năm 2009, do tăng diện tích mặt nước nuôi trồng và đầu tư thâm canh nuôi tốt hơn. Năng suất nuôi trồng thủy sản bình quân đạt 20,0 tạ/ha, một số địa phương có sản lượng cao so với năm 2009 như: huyện Lâm Hà tăng 498,7 tấn, tăng 20,34%; huyện Lạc Dương tăng 222 tấn, tăng gần 3,11 lần, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm đều tăng cao do một số diện tích được đầu tư nuôi cá hồi vân, cá tằm Nga cho năng suất cao.
Hoạt động khai thác thủy sản trong năm giảm, sản lượng đánh bắt đạt 409,8 tấn, giảm 16,05% (-78,4 tấn) so năm 2009, do nguồn thuỷ sản tự nhiên ngày càng ít nên hoạt động đánh bắt bị hạn chế.
III. Sản xuất công nghiệp - Đầu tư xây dựng
1. Sản xuất công nghiệp:
Cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định hơn, tăng trưởng công nghiệp tiếp tục được duy trì. Bên cạnh đó, cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt được các cấp, các ngành triển khai tích cực, đạt hiệu qủa; các cơ sở sản xuất trên địa bàn tập trung đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp Lễ, Tết và lễ hội văn hoá Trà Lâm Đồng lần thứ III với chủ đề “Bay xa hương trà B’Lao” sắp đến đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh tăng trưởng nhanh hơn trong những tháng cuối năm.
Bảng 2: Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 1994)
|
Ước thực hiện năm 2010 (Triệu đồng) |
% so với năm 2009 |
Tổng số |
4.841.993 |
110,25 |
Phân theo ngành công nghiệp |
|
|
- Khai thác mỏ |
193.020 |
135,66 |
- Chế biến |
3.099.487 |
116,54 |
- Sản xuất, PP điện, nước, khí đốt |
1.549.487 |
97,45 |
Phân theo loại hình kinh tế |
|
|
- Kinh tế nhà nước |
1.883.475 |
101,04 |
- Kinh tế ngoài nhà nước |
2.293.510 |
122,75 |
- Kinh tế có vốn đầu tư NN |
665.008 |
100,87 |
Dự ước giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2010 (giá CĐ 1994) đạt 4.841,99 tỷ đồng, đạt 92,17% kế hoạch năm 2010, tăng 10,25% so cùng kỳ năm 2009. Trong đó kinh tế nhà nước địa phương đạt 59,31 tỷ đồng tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2009, kinh tế ngoài nhà nước tăng mạnh đạt 2.293,5 tỷ tăng 22,75% so với cùng kỳ; kinh tế nhà nước Trung ương tăng 0,44% so với cùng kỳ.
Chia theo ngành kinh tế, công nghiệp khai thác mỏ đạt 193,02 tỷ đồng chiếm 3,98% trong tổng GTSX, tăng 13,12% so cùng kỳ; công nghiệp chế biến đạt 3.099,5 tỷ đồng chiếm 64,01% trong tổng GTSX và tăng 16,54% so cùng kỳ và công nghiệp sản xuất phân phối điện nước đạt 1.549.487 tỷ đồng chiếm 32,0% trong tổng GTSX, giảm 2,55% so năm 2009.
Một số sản phẩm chủ yếu có sản lượng sản xuất tăng so năm 2009: quặng bau xít đạt 82.836 tấn, tăng 90,43% so với năm 2009, cao lanh các loại đạt 58.883 tấn, tăng 25,98%, đạt 87,98% kế hoạch; đá các loại đạt 1.363,3 ngàn m3, tăng 27,83%, tăng 46,59% kế hoạch; cát sỏi các loại đạt 927,2 ngàn m3, tăng 28,68%, bằng 94,7% kế hoạch; chè chế biến đạt 45.903 tấn, tăng 8,97%, vượt 14,76% kế hoạch; hạt điều chế biến đạt 1.729 tấn, tăng 16,61%, vượt 8,08% kế hoạch; rượu mùi các loại đạt 3.622 ngàn lít, tăng 26,29%, bằng 100,61% kế hoạch; rau sấy khô đạt 902 tấn, tăng 1,18% so với kế hoạch; sợi tơ tằm các loại đạt 957,6 tấn, tăng 5,11%; lụa tơ tằm các loại đạt 1.785 ngàn m2, tăng 8,64%; phân bón các loại đạt 39.986,7 tấn, tăng 34,98%; gạch nung các loại đạt 444,49 triệu viên, tăng 30,93% so với năm 2009, bằng 89,01% kế hoạch ...
Bên cạnh đó còn có một số sản phẩm sản xuất giảm so năm 2009 như: đường mật các loại đạt 5.130 tấn, giảm 19,59%; cà phê chế biến đạt 310,7 tấn, giảm 44,72%; quần áo may sẵn đạt 3.050,6 ngàn cái, bằng 95,6%, sản phẩm thêu đan đạt 1.367,3 ngàn cái, giảm 9,63%, điện sản xuất đạt 2.982.341 ngàn KWh giảm 5,32%.
2- Đầu tư xây dựng:
Năm 2010 là cuối của kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, năm tiến hành Đại hội Đảng các cấp, từ đầu năm tỉnh đã phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội cũng như lĩnh vực đầu tư XDCB; nhiều dự án công trình được chọn làm công trình chào mừng Đại hội Đảng được xác định cụ thể mốc thời gian hoàn thành, từ đó tạo thuận lợi cho việc triển khai đầu tư xây dựng các công trình. Việc phân cấp quản lý cũng như cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư XDCB đã có tác dụng nhất định đồng thời công tác chỉ đạo của các cấp các ngành, và thời tiết nắng hạn kéo dài đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn. Tuy nhiên công tác đầu tư xây dựng trong năm 2010 gặp một số khó khăn : giá cả nguyên vật liệu tăng cao; năng lực quản lý của một số chủ đầu tư thuộc công trình mục tiêu quốc gia còn hạn chế (chủ đầu tư là cấp xã); công tác đền bù giải toả và quy hoạch còn nhiều bất cập đã ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư xây dựng và triển khai đấu thầu các dự án đầu tư xây dựng theo kế hoạch. Trước tình hình trên trong năm 2010 UBND, tỉnh đã thực hiện hai đợt chuyển vốn từ dự án khó có khả năng giải ngân sang các dự án cần bổ sung vốn đầu tư, trong đó rút 33 dự án với tổng số vốn là 45,472 tỷ đồng.
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh năm 2010 ước thực hiện 13.980 tỷ đồng tăng 51,48% so cùng kỳ năm trước, đạt 139,8% kế hoạch năm (theo kế hoạch 10.000 tỷ của UBND tỉnh giao) bằng 58,16% so với GDP năm 2010 (nếu loại trừ vốn đầu tư của dự án bau xít nhôm Lâm Đồng thì vốn đầu tư phát triển bằng 34,44% so GDP năm 2010).
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển năm 2010
|
Tổng vốn Đầu tư phát triển năm 2010 (triệu đồng) |
Trong đó: Vốn do địa phương quản lý (triệu đồng) |
Tổng vốn đầu tư phát triển |
13.980.000 |
7.618.000 |
I. Vốn nhà nước |
8.625.571 |
2.488.571 |
II. Vốn ngoài quốc doanh |
4.754.113 |
4.529.113 |
III. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài |
600.316 |
600.316 |
* Nguồn vốn đầu tư phát triển do địa phương quản lý ước đạt 7.618 tỷ đồng tăng 13,21% so cùng kỳ năm 2009. Trong đó:
- Nguồn vốn nhà nước đạt 2.488,6 tỷ đồng, chủ yếu thực hiện nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 2.045,2 tỷ đồng tăng 42,93% so cùng kỳ và đạt 106% so kế hoạch đề ra, chủ yếu tập trung đầu tư phát triển các ngành kinh tế có ưu thế của địa phương và xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế…và các công trình trọng điểm của tỉnh.
Một số công trình trọng điểm:
+ Đường 723 đoạn Đà Lạt – Đạ Cháy: đến nay cơ bản hoàn thành những đoạn đường bám theo tuyến cũ, đã hoàn thành phần cầu chính, đang trải thảm nhựa mặt đường, tường chắn và hệ thống thoát nước đang được thi công; đoạn Đạ Cháy- Khánh Vĩnh đến nay tiếp tục hoàn thiện một số hạng mục xử lý taluy âm và taluy dương tại một số vị trí.
+ Quảng trường trung tâm thành phố: trong năm 2010 tập trung công tác bồi thường và đấu thầu, hiện đang triển khai thi công gói thầu số 19 và gói tư vấn giám sát.
+ Dự án khu trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng: Công trình khởi công vào ngày 2/5/2010, hiện đang tập trung công tác phá đá (các tảng đá vướng vào vị trí xây dựng), thi công thử tải trọng và thi công cọc tại khối nhà chính.
+ Dự án xây dựng khu ký túc xá tập trung thành phố Đà Lạt: Hiện công tác giải ngân đang được chú trọng nhằm hoàn thiện việc giải phóng mặt bằng và tiến hành làm đường tạm, lán trại, bãi đúc cọc, định vị công trình..
+ Dự án xây dựng quốc lộ 28 đoạn tránh ngập thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4, hiện đang đồng loạt triển khai 8 gói thầu, khối lượng thực hiện khoảng 32% tổng mức.
+ Dự án Nâng cấp mở rộng đập cầu Ông Đạo, Đà Lạt: dự án triển khai chậm so với yêu cầu đề ra. Theo chủ đầu tư báo cáo sẽ hoàn thành vào ngày 25/01/2010 theo cam kết của hợp đồng xây lắp.
+ Công trình nạo vét Hồ Xuân hương và Hồ lắng ở Đà Lạt: ®Õn 4/7 ®· n¹o vÐt ®îc 405.508 m3 ®Êt, khối lượng thực hiện ước đạt 44 tû ®ång, đã san g¹t côc bé, c¾t cá trong lßng hå vµ x©y kÌ, theo dự kiến ngày 25/12/2010 Hồ Xuân Hương sẽ được tích nước.
- Vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước đạt 4.529 tỷ đồng tăng 4,86% so với năm 2009, trong đó vốn đầu tư của các tổ chức doanh nghiệp đạt 2.227 tỷ tăng 3,3% và vốn đầu tư của các hộ gia đình (cá thể) đạt 2.302, tỷ đồng tăng 2,45% so cùng kỳ.
- Vốn đầu tư khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 600,3 tỷ đồng (30,88 triệu USD), tăng 63,84% so cùng kỳ, chủ yếu các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài đầu tư, ước đạt 510,3 tỷ đồng.
* Nguồn vốn do Trung ương quản lý đạt 6.362 tỷ đồng tăng 154,43% so cùng kỳ năm 2009. Trong đó: Nguồn vốn nhà nước đạt 6.137 tỷ đồng, chủ yếu thực hiện đầu tư của dự án tổ hợp Bau xít nhôm Lâm Đồng (thực hiện 5.701 tỷ đồng) số còn lại là thực hiện vốn của các dự án thủy điện vừa và nhỏ, các đơn vị hành chính sự nghiệp trung ương đóng trên địa bàn.
Tình hình thành lập mới doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng:
Trong tháng 11 năm 2010, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 64 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh mới với tổng số vốn đăng ký kinh doanh 380,3 tỷ đồng; gồm 8 doanh nghiệp tư nhân, 48 công ty trách nhiệm hữu hạn, 8 công ty cổ phần. Như vậy trong 11 tháng năm 2010 trên địa bàn toàn tỉnh có 690 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh mới với tổng số vốn đăng ký kinh doanh 4.113,2 tỷ đồng; gồm 128 doanh nghiệp tư nhân, 485 công ty trách nhiệm hữu hạn, 77 công ty cổ phần.
Trong tháng 11/2010 không có dự án đầu tư nước ngoài nào được UBND tỉnh cấp phép mới. Tính đến nay tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh là 108 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký đạt 528,7 triệu USD, dự ước vốn đầu tư thực hiện khu vực này năm 2010 đạt 30,9 triệu USD.
IV. Thương mại, giá cả và dịch vụ
1- Nội thương
Năm 2010 do vẫn ảnh hưởng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, bên cạnh đó thị trường những tháng cuối năm 2010 biến động phức tạp và có xu hướng tăng tăng giảm phức tạp nên lượng khách quốc tế đến du lịch trên địa bàn tỉnh tăng chậm, đồng thời tác động đến sức mua thị trường nội địa. Nhưng với những giải pháp đồng bộ và kịp thời của Chính phủ và địa phương nhằm kích cầu tiêu dùng thông qua tổ chức thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước và phát động phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn với việc tổ chức các đợt khuyến mại, tuyên truyền quảng bá cho hàng Việt Nam và nhất là Lễ hội Văn hóa du lịch Festival Hoa Đà Lạt với chủ đề “Đà Lạt- thành phố ngàn hoa” chào mừng Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội; lễ hội văn hoá Trà Lâm Đồng lần thứ III với chủ đề “Bay xa hương trà B’Lao” được các cấp, các ngành tích cực chuẩn bị để tổ chức tại không gian chính là thành phố Bảo Lộc và các địa phương lân cận như huyện Di linh, Bảo Lâm và thành phố Đà Lạt trong ba ngày từ 25 đến 27/12/2010, sẽ tác động tốt thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh .
Bảng 4: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
|
Ước năm 2010 (Triệu đồng) |
Cơ cấu (%) |
So sánh năm 2010/2009 (%) |
Tổng số |
20.642.446 |
100 |
120,87 |
Chia theo loại hình KT |
|
|
|
- Kinh tế nhà nước |
2.124.761 |
10,29 |
115,34 |
- Kinh tế ngoài nhà nước |
18.334.613 |
88,82 |
121,58 |
- Kinh tế có vốn ĐTNN |
183.072 |
0,89 |
117,45 |
Chia theo ngành hoạt động |
|
|
|
- Ngành thương nghiệp |
16.582.117 |
80,33 |
122,46 |
- Khách sạn, nhà hàng |
1.893.994 |
9,18 |
125,19 |
- Du lịch lữ hành |
60.218 |
0,2 |
112,22 |
- Du lịch, dịch vụ |
2.106.118 |
10,2 |
106,91 |
Ước năm 2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 20.642,44 tỷ đồng, tăng 20,87% so cùng kỳ, trong đó kinh tế nhà nước đạt 2.124,76 tỷ đồng chiếm 10,29% trong tổng mức và tăng 15,34% so với cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước đạt 18.334,61 tỷ đồng chiếm 88,82% trong tổng mức và tăng 21,58% so với cùng kỳ, đây là hai thành phần kinh tế cá thể và tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng mạnh đã góp phần lớn vào mức tăng trưởng còn kinh tế tập thể và có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ, tăng trưởng ổn định. Theo ngành hoạt động, ngành thương nghiệp ước năm 2010 đạt 16.582,11 tỷ đồng, chiếm 80,33% tổng mức và cũng là ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất (tăng 22,46%) so cùng kỳ; tiếp theo ngành khách sạn, nhà hàng đạt 1.894 tỷ, chiếm 9,18% tổng mức, tăng 25,19% so cùng kỳ; các ngành còn lại là du lịch lữ hành và dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ (10,4%) và đều tăng so cùng kỳ.
Đối với hoạt động du lịch-lữ hành, lượng khách đăng ký lưu trú và lữ hành phục vụ qua các cơ sở lưu trú năm 2010 ước đạt 2.071.967 lượt khách, tăng 24,7% so năm 2009; trong đó, khách quốc tế 82.774 lượt khách, tăng 7,92% so năm trước và khách trong nước đạt 1.989.193 lượt khách, tăng 25,51% so năm 2009.
2. Xuất , nhập khẩu:
a) Xuất khẩu:
Năm 2010, do còn ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ và suy thoái kinh tế toàn cầu và giá cả trong nước biến động bất thường nhất là giá vàng và giá USD Mỹ đã ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cố gắng, chủ động trong hoạt động sản xuất, cùng với những giải pháp tháo gỡ khó khăn của trung ương và địa phương nên xuất khẩu trên địa bàn tỉnh năm 2010 đạt được kế hoạch đề ra.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước đạt 246,014 triệu USD, đạt 73% kế hoạch, tăng 0,64% so năm 2009. Trong đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 148,392 triệu USD, chiếm 60,32%, tăng 13,42% so năm 2009; kinh tế tư nhân đạt 85,339 triệu USD, bằng 97,99% so năm 2009.
Bảng 5: Tổng kim ngạch xuất khẩu
|
Ước năm 2009 (ngàn USD) |
So sánh với 2007 ( %) |
|
||
Tổng trị giá |
246.014 |
100,64 |
- Kinh tế nhà nước |
12.283 |
47,98 |
- Kinh tế tư nhân |
85.339 |
97,99 |
- Kinh tế có vốn ĐTNN |
148.392 |
113,42 |
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của địa phương tiếp tục ổn định và tăng trưởng so năn trước như: cà phê mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh sản lượng xuất khẩu năm 2010 ước đạt 92,229 ngàn tấn, tăng 3,78% so năm trước; trị giá 150,62 triệu USD, tăng 7,46% so năm trước; sản lượng chè xuất khẩu ước đạt 10.195,8 tấn, giảm 10,86% so năm trước, kim ngạch đạt 16,55 triệu USD, bằng 88,34% năm 2009; mặt hàng rau qua, hoa đạt kim ngạch 35,11 triệu USD giảm 0,64% (hàng rau qủa xuất khẩu đạt sản lượng 15.232 tấn, tăng 3,18% so năm 2009); riêng hàng dệt may xuất khẩu giảm mạnh do sức mua các thị trường truyền thống giảm nhất là khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu, ước năm 2010 xuất khẩu 16,63 triệu USD, giảm 35,94% so năm 2009.
b) Nhập khẩu:
Dự ước kim ngạch nhập khẩu năm 2009 là 27,71 triệu USD, bằng 98,64% so năm 2009, do thực hiện các giải pháp hạn chế nhập siêu, đẩy mạnh xuất khẩu nhằm kích thích kinh tế trong nước phát triển của Chính phủ.Trong đó, kinh tế trong nước nhập 0,36 triệu USD, bằng 4,63% so năm 2009 và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 14,57 triệu USD, tăng 41,74% so năm 2009. Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu như: tơ sợi, vải may mặc, giống cây trồng…; tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị dùng cho sản xuất nông nghiệp.
3- Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng tỉnh Lâm Đồng tháng 12/2012 tăng 2,33% so tháng trước, tăng 11,39% so kỳ gốc 2009, chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm 2010 so với năm 2009 tăng 8,39%. Nguyên nhân do thị trường diễn biến phức tạp nhất là giá vàng và đô la tăng trong những tháng vừa qua.
So với tháng trước, hầu hết các nhóm hàng đều tăng; trong đó, tăng mạnh nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+3,62%),ảnh hưởng trực tiếp vào nhóm này là do ảnh hưởng của lũ lụt ở các tỉnh Miền Trung và một số tỉnh ở Tây Nguyên trong tháng 10; 11 năm 2010, bên cạnh đó là dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; tiếp theo sau là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+3,2%)% so với tháng trước, ảnh hưởng trực tiếp vào nhóm này là do giá gas và sắt thép tăng.
Tháng 12 là tháng cuối năm, có nhiều ngày lễ lớn, chuẩn bị đón năm mới, đồng thời là mùa cưới nên giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép và dịch vụ phục vụ lễ, tết có xu hướng tăng; nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,15% so tháng trước, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,85%.
Giá vàng trên địa bàn tỉnh trong tháng tăng mạnh, tuy có giảm trong những ngày cuối tháng 12/2010, so tháng trước tăng 5,45%. Giá đô la Mỹ biến động tăng nhưng biên độ nhỏ hơn, so với tháng trước tăng 3,56%.
4- Giao thông vận tải – Bưu chính, Viễn thông
Hoạt động vận tải năm 2010 được duy trì và không ngừng phát triển, các phương tiện vận tải tăng nhanh về số lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân.Vận tải ngoài quốc doanh phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng lớn và trở thành thành phần quan trọng đảm bảo giao thông thông suốt, tiện lợi và an toàn. Giá cước vận tải đã được các đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh sau khi giá xăng, dầu liên tục tăng trong thời gian qua.
Ước năm 2010, vận chuyển hành khách đạt 24.696,47 ngàn lượt hành khách, tăng 13,2% so năm 2009 và luân chuyển 3.886.093,1 ngàn lượt hk.km, tăng 16,7% so năm 2009. Trong đó, đường bộ thực hiện 24.522,7 ngàn lượt khách và luân chuyển 3.886.005,2 ngàn hk.km, tăng 13,32% về lượt khách và 16,74% về luân chuyển.
Sản lượng hàng hóa vận chuyển ước năm 2009 đạt 5.179,8 ngàn tấn, tăng 19.48% so năm trước và luân chuyển 624.729,1 ngàn tấn.km, so năm 2009 tăng 21,34 Trong đó đường bộ vận chuyển 5.179,8 tấn, tăng 19,48% và luân chuyển 624.729,1 ngàn tấn.km, tăng 21,34% so năm trước.
Ước năm 2010, thuê bao điện thoại cố định phát triển mới trên địa bàn tỉnh đạt 115.351 thuê bao, bằng 21,6% so với năm 2009, (trong đó, Viễn thông Lâm Đồng 26.008 thuê bao, Bưu chính viễn thông quân đội 86.944 thuê bao, Điện lực Lâm Đồng 2.389 thuê bao); thuê bao di động phát triển mới 88.637 thuê bao, bằng 18,4 so với năm 2009, thuê bao cố định 26.704 thue bao, bằng 50,2% so với năm 2009; thuê bao internet phát triển mới ước đạt 9.915 thuê bao bằng 65,72% so năm 2009.
Tổng doanh thu hoạt động Vận tải và Bưu chính Viễn thông ước năm 2010 đạt 3.115,97 tỷ đồng, tăng 24,59% so năm 2009. Trong đó, doanh thu hoạt động Vận tải đạt 1.357,78 tỷ đồng, chiếm 43,57%, tăng 26,19% so với năm trước; doanh thu hoạt động Bưu chính Viễn thông đạt 1.758,2 tỷ đồng, chiếm 56,42%, tăng 23,38% so năm 2009.
V. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH – TÍN DỤNG
1. Hoạt động tài chính:
Năm 2010, công tác thu ngân sách tiếp tục được đẩy mạnh nhất là tập trung đôn đốc thu thuế đối với các doanh nghiệp, các đơn vị lớn đóng trên địa bàn tỉnh. Công tác chi ngân sách đảm bảo duy trì tốt các hoạt động thường xuyên về quản lý nhà nước, đảm bảo xã hội, an ninh quốc phòng, cũng như tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn, tổ chức Đại hội Đảng các cấp.
Bảng 6: Thu chi ngân sách nhà nước
|
Năm 2010 |
% so với cùng kỳ |
1. Tổng thu ngân sách nhà nước |
3.250.000 |
120,90 |
Tđó: Các khoản thuế phí, lệ phí |
1.800.000 |
112,90 |
2. Tổng thu ngân sách địa phương |
5.895.670 |
113,04 |
3. Tổng chi ngân sách địa phương |
5.747.973 |
120,66 |
Trong đó: |
|
|
- Chi XD cơ bản tập trung |
619.490 |
108,68 |
- Chi thường xuyên |
2.276.063 |
104,09 |
Dự ước cả năm 2010: Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước năm 2010 đạt 3.250 tỷ đồng, đạt 106,56% so với dự toán địa phương, tăng 20,90% so cùng kỳ. Hầu hết các khoản thu lớn, chủ yếu đều vượt kế hoạch và tăng khá so cùng kỳ; trong đó thu từ thuế phí, lệ phí 1.880 tỷ đồng, đạt 94,74% dự toán, tăng 12,90% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương 155 tỷ đồng, đạt 106,46% dự toán, tăng 34,90% so cùng kỳ; thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 75 tỷ đồng, đạt 100% dự toán tăng 15,30% so cùng kỳ; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh 946,4 tỷ đồng, đạt 86,63% dự toán, tăng 41,80%; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương đạt 320 tỷ đồng đạt 114,90% dự toán, tăng 18,50% so cùng kỳ.
Tổng thu ngân sách địa phương ước cả năm 2010 thực hiện 5.895,7 tỷ đồng, đạt 130,32% dự toán địa phương, tăng 13,04% so năm trước; trong đó thu điều tiết tăng 22,61% so cùng kỳ; thu trợ cấp theo kế hoạch từ NSTW, tăng 13,75% so năm 2009.
Tổng chi ngân sách địa phương năm 2010 thực hiện 5.747,9 tỷ đồng, đạt 95,96% dự toán địa phương, tăng 20,66% so năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 88,99% dự toán, tăng 33,37% so cùng kỳ; chi thường xuyên 2.276,1 tỷ đồng, chiếm 35,60% tổng chi, đạt 98,13% dự toán địa phương, tăng 4,09% so cùng kỳ, trong đó chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 993,9 tỷ đồng, tăng 7,36% so cùng kỳ; chi sự nghiệp kinh tế 214,1 tỷ đồng tăng 7,36% so cùng kỳ; chi quản lý hành chính 454,9 tỷ đồng đạt 91% dự toán, giảm 10,41% so cùng kỳ.
2. Hoạt động tín dụng:
Hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn trong năm 2010 đã thực hiện các chủ trương chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả. Hiện nay lãi suất huy động tiền gửi tại các ngân hàng thương mại dao động 11%/năm đến 12%/năm, lãi suất huy động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân phổ biến ở mức 12%/năm . Trên địa bàn tỉnh mạng lưới ngân hàng tiếp tục phát triển, đã có thêm 2 cơ sở tín dụng là Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) và chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB). Công tác thanh toán và các dịch vụ tiện ích của ngân hàng được chú trọng; hệ thống máy rút tiền tự động bằng thẻ ATM toàn tỉnh hiện đã lắp đặt 104 máy, phát hành 315.372 thẻ, đã thiết lập 252 điểm chấp nhận thẻ thanh toán (pos). Về thanh toán trả lương qua tài khoản, hiện đã có 822 đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước và 182 đơn vị ngoài nhà nước ký kết hợp đồng với các ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn: Tính đến 30/10/2010 nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh là 11.189 tỷ đồng, tăng 31,04% so với đầu năm và tăng 33,50% so cùng kỳ. Trong đó, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu và trái phiếu của dân cư ước đạt 8.774 tỷ đồng, chiếm 78,42% trong tổng nguồn vốn, tăng 43,75% so đầu năm.
Hoạt động sử dụng vốn: Tính đến 30/10/2010 tổng dư nợ hữu hiệu của các tổ chức tín dụng trên địa bàn là 17.519 tỷ đồng, tăng 21,90% so với đầu năm, tăng 23,60% so cùng kỳ. Trong đó dư nợ trung dài hạn ước 7.625 tỷ đồng, tăng 24,10% so đầu năm, tăng 29,80% so cùng kỳ; dư nợ ngắn hạn ước 9.894 tỷ đồng, tăng 20,30% so đầu năm, tăng 19,30% so cùng kỳ.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu của hệ thống các TCTD trên địa bàn 644 tỷ đồng, chiếm 3,67% tổng dư nợ và tăng 1,91% so với đầu năm.
Thực hiện các chủ trương hỗ trợ lãi suất của Chính phủ và của NHNN Việt Nam: Tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến cuối tháng 10 năm 2010 là 1.362 tỷ đồng với trên 58.100 khách hàng lũy kế được hỗ trợ lãi suất, chiếm 7,8% tổng dư nợ toàn địa bàn. Tực hiện quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn theo QĐ14/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phát hành chứng thư thông báo chấp thuận bảo lãnh cho 08 doanh nghiệp ngoài nhà nước, trong đó có 04 doanh nghiệp vay vốn tại 02 chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Lâm Đồng và phòng giao dịch Đà Lạt của NHTMCP Quốc tế chi nhánh Nha Trang, đến nay dư nợ cho vay bảo lãnh của 4 doanh nghiệp tại 2 chi nhánh ngân hàng trên là 19,79 tỷ đồng; cho vay theo chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới đạt dư nợ 836 tỷ đồng với 26.515 khách hàng, trong đó tập trung chủ yếu cho vay hộ kinh doanh 543 tỷ; cho vay hộ nghèo 69 tỷ; thực hiện cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn 6.460 tỷ đồng.
VI. MỘT SỐ LĨNH VỰC VĂN HÓA-XÃ HỘI
1. Dân số, lao động và thu nhập:
Trong những năm gần đây, mặc dù tốc độ gia tăng dân số và mức sinh của tỉnh Lâm Đồng vẫn đang đà giảm. Dân số trung bình sơ bộ năm 2010 là 1.201.268 người, trong đó nữ 600.946 người, chiếm tỷ lệ 50,03%; dân số thành thị 456.490 người, chiếm 38%; dân số trong độ tuổi lao động là 771.782 người, chiếm 64,25%. Tổng số người đang làm việc trong các ngành kinh tế 659.934 người, trong đó lao động làm việc trong khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất 63,52% (419.194 người). Tỷ lệ thất nghiệp chung toàn tỉnh là 2,78%, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị 3,65%, nông thôn 2,27%.
Trong năm 2010, toàn tỉnh có 30.120 người được giải quyết việc làm, tăng 120 người so cùng kỳ năm 2009, trong đó lao động xuất khẩu 604 người đạt 100,6% kế hoạch, tăng 245 người so cùng kỳ năm 2009 tập trung chủ yếu ở thị trường Malaysia và Hàn Quốc, còn lại là giải quyết việc làm tại chỗ thông qua Ngân hàng Chính sách tỉnh cho vay tạo việc làm mới và tự giải quyết việc làm trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn vốn cho vay để giải quyết việc làm mới đạt trên 8 tỷ đồng.
Đời sống cán bộ, công nhân viên khu vực nhà nước ổn định hơn và ngày được cải thiện. Bắt đầu từ ngày 1/5/2010 theo Nghị định số 28/2010/NĐ- CP ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ nâng mức lương tối thiểu chung tăng từ 650.000 đồng lên 730.000 đồng. Dự ước thu nhập bình quân khu vực khu vực nhà nước trung ương đóng trên địa bàn đạt 4.113 nghìn đồng/1 người/1 tháng, cao hơn khu vực nhà nước địa phương 1,8 lần (2.321 nghìn đồng/1 người/1 tháng).
2. Hoạt động văn hóa-Tuyên truyền:
Năm 2010, ngành văn hóa-thông tin Lâm Đồng tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo tốt nhiệm vụ chính trị và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư trong tỉnh. Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm như kỷ niệm 120 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 65 Cánh mạng tháng tám và Quốc khánh 2/9...cũng như tổ chức thành công lễ hội Festival Hoa Đà Lạt 2010, mở màn cho 7 lễ hội lớn chào mừng 1000 năm Thăng long – Hà Nội, chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp, chào mừng thị xã Bảo Lộc lên thành phố Bảo Lộc. Bên cạnh đó Lâm Đồng vinh dự là tỉnh duy nhất đại diện cho 5 tỉnh Tây Nguyên tham dự lễ hội văn hóa du lịch Việt Nam nhân dịp Giỗ tổ Hùng Vương tổ chức tại đất tổ Phú Thọ, gồm có 3 đơn vị tham gia lễ hội là Bảo tàng Lâm Đồng, Đoàn ca múa nhạc Lâm Đồng và công ty TNHH Rừng hoa Đà Lạt.
Để chào mừng các sự kiên trên đã cắt dán, kẻ vẽ trên 1.791m2 băng rôn, 1.791 m2 panô và treo 1.312 cờ phướn các loại. Hoạt động Bảo tàng mở cửa thường xuyên đón 12.000 lượt khách đến tham quan, nghiên cứu. Phối hợp với Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức triển lãm “Cổ vật Lý- Trần 1000 Thăng long- Hà Nội” trưng bày 69 hiện vật đặc sắc, triển lãm ảnh chào mừng Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam 2/9/2010. Thư viện tỉnh mở cửa phục vụ bạn đọc đến đọc và mượn sách, báo, tài liệu 99.658 lượt bạn đọc, cấp 5.171 thẻ, bổ sung 7.435 bản sách mới nâng tổng số sách lên 175.544 bản. Các đội thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động tổ chức các buổi chiếu phim 545 buổi phục vụ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thu hút trên 196 nghìn lượt người xem; Đoàn ca múa nhạc dân tộc Lâm Đồng phục vụ 56 buổi thu hút trên 250 nghìn lượt người đến xem.
Công tác thanh tra kiểm tra các điểm dịch vụ văn hóa và du lịch với 1.875 cơ sở, có 294 cơ sở, cá nhân vi phạm. Xử lý cảnh cáo 36 vụ, phạt tiền 53 vụ với tổng số tiền 148,5 triệu đồng; tịch thu 1.025 đĩa VCD, buộc tháo gỡ 09 bảng quảng cáo và 301 băng rôn.
3. Hoạt động phong trào thể dục-thể thao:
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển với nội dung ngày càng phong phú, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng. Từ đầu năm đến nay ngành Thể thao phối hợp với các ngành liên quan tổ chức 28 giải thể dục thể thao cấp tỉnh thu hút gần 2.500 vận động viên tham gia. Tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ VI năm 2010 với 12 bộ môn trên 1.000 vận động viên của 15 đơn vị tham gia thi đấu. Tổ chức 7 giải thể thao toàn quốc và khu vực do tỉnh đăng cai. Tổ chức đón đoàn đua xe đạp cúp truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 22. Phối hợp với Tỉnh đoàn tổ chức giải việt dã truyền thống, giải leo núi Brăh Ya2ng lần I; Hội Nông dân tỉnh tổ chức giải bóng chuyền nông dân “Bông lúa vàng” lần 1; Ngoài ra còn duy trì tập luyện các lớp năng khiếu và hỗ trợ công tác chuyên môn cho các đơn vị cơ sở tham gia tổ chức các giải thi đấu.
Thể thao thành tích cao: Từ đầu năm đến nay đã tham gia 44 giải khu vực, quốc gia và quốc tế với 471 vận động viên. Thành tích đạt được 165 huy chương các loại (có 57 huy chương vàng, 43 huy chương bạc, 65 huy chương đồng). Giải Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ VI -2010 môn võ cổ truyền đạt 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 02 huy chương đồng. Giải cờ vua trẻ Đông Nam Á tại Philippin, giải cờ vua trẻ Châu Á tại Trung Quốc đạt 15 huy chương (09 huy chương vàng, 04 huy chương bạc, 02 huy chương đồng). Đội tuyển bóng đá nam tham gia giải bóng đá hạng nhì quốc gia năm 2010, xếp hạng 2/6 của bảng B- Trụ hạng.
4. Giáo dục - Đào tạo:
Tình hình học sinh bỏ học: Theo số liệu của Sở Giáo dục - Đào tạo Lâm Đồng, tính đến ngày 10/8/2010 số lượng học sinh bỏ học ở các cấp: Tiểu học: có 6 học sinh, Trung học cơ sở: có 218 học sinh, Trung học phổ thông: 48 có học sinh. Nguyên nhân bỏ học chủ yếu là do học lực kém (chiếm 70%), một số do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Tình hình tựu trường năm học 2010 – 2011:
Bước vào năm học mới 2010 - 2011, toàn tỉnh có 636 trường, tăng 06 trường so với năm học trước, trong đó tiểu học tăng 01 trường, THCS tăng 04 trường và THPT giảm 01 trường và mẫu giáo – mầm non tăng 02 trường. Số học sinh cụ thể các ngành học, bậc học huy động như sau:
Giáo dục mầm non có 52.906 cháu ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo được ra lớp. Chia ra số cháu ở các nhóm trẻ là: 6.982 cháu, tăng 1,5% so với cùng kỳ và chiếm tỷ lệ 10,4% so với dân số trong độ tuổi từ 0 đến 2 tuổi và số cháu đi học mẫu giáo có: 45.924 cháu, tăng 4,8% so với năm học trước và đạt tỷ lệ cháu đi mẫu giáo so với dân số trong độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi khoảng 71,4%.
Giáo dục phổ thông cả 3 cấp có 250.095 học sinh, giảm 2,2% so với năm học trước, trong đó: cấp tiểu học có 113.906 học sinh, giảm 2,1% so năm học trước, cấp trung học cơ sở 88.160 học sinh, giảm 4% và cấp trung học phổ thông có 48.029 học sinh, tăng 0,9% so năm học trước..
Đội ngũ giáo viên đầu năm học 2010-2011 toàn tỉnh có 447 cô nuôi dạy trẻ (tăng 1,4%) và 2.306 giáo viên mẫu giáo (tăng 4,8%); tổng số giáo viên phổ thông có 12.526 người (giảm 1,1%), trong đó giáo viên tiểu học 5.142 người, giáo viên THCS 4.823 người và giáo viên THPT là 2.561 người.
Tình hình thực hiện phổ cập Trung học cơ sở được tăng cường chỉ đạo, thực hiện và có chuyển biến khá tốt ở các địa phương. Tính đến nay, toàn tỉnh đã có 145/148 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (đạt tỷ lệ 97,97%); 143/148 (đạt tỷ lệ 96,62) xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
* Thực trạng phát triển mạng lưới dạy nghề:
Đến nay toàn tỉnh có 43 đơn vị dạy nghề, trong đó có 01 trường Cao đẳng nghề, 02 trường trung cấp nghề, 18 trung tâm dạy nghề, 22 đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp có đăng ký dạy nghề. Trong năm 2010 tuyển mới học nghề 41.400 người, số học viên tốt nghiệp ở các trình độ đào tạo nghề là 34.440 học viên (tăng gấp 2,16 lần so năm 2009), trong đó cao đẳng nghề 340 học viên, trung cấp nghề 990 học viên, sơ cấp nghề 7.400 học viên, dạy nghề thường xuyên 25.710 học viên.
* Công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn:
Kỳ thi đại học, cao đẳng năm học 2010-2010 diễn ra trật tự, an toàn và đúng quy chế. Tổng số thí sinh dự thi đại học là 9.521 thí sinh, giảm 24,09% (3.022 thí sinh) so năm học trước. Ngoài ra có hơn 2.021 hồ sơ đăng ký để xét tuyển hệ đại học, 2.258 hồ sơ đăng ký để xét tuyển hệ cao đẳng; 1.030 hồ sơ đăng ký để xét tuyển hệ trung học chuyên nghiệp. Số tuyển mới vào học hệ đại học chính quy là 2.310 sinh viên; học hệ cao đẳng chính quy là 1.657 sinh viên, hệ trung học chuyên nghiệp chính quy là 1.887 học sinh.
5. Hoạt động y tế:
Năm 2010, ngoài nhiệm vụ thường xuyên ngành y tế Lâm Đồng tiếp tục tăng cường giám sát chặt chẽ các bệnh truyền nhiễm như: sốt xuất huyết, sốt rét, cúm A (H1N1), bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do virus cúm A (H5N1), phối hợp với các ngành chức năng để giám sát dịch bệnh, cung cấp thuốc vệ sinh môi trường. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân, nhất là khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người già trên 85 tuổi.
Trong năm 2010 đã cấp 374.570 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và trẻ em dưới 6 tuổi. Tổng kinh phí khám chữa bệnh mễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc trên 9 tỷ đồng. Số lần khám chữa bệnh tăng 8,6% tại các cơ sở điều trị trong tỉnh với 3.224.551 lượt bệnh nhân, số ngày bệnh nhân điều trị nội trú là 881.813 ngày người, tăng 6,6% so cùng kỳ năm 2009. Công suất sử dụng giường bệnh tuyến xã chỉ 36% nhưng ở tuyến huyện là 120% và tuyến tỉnh là 109%.
Tình hình các bệnh dịch trên địa bàn toàn tỉnh nhìn chung không xảy ra. Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Lâm Đồng, dịch A(H5N1) từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không phát hiện thêm trường hợp nào, số ca nhiễm cúm đến nay là 418 trường hợp và 2.343 ca nghi ngờ, có 01 trường hợp tử vong. Bệnh sốt rét tuy không có dịch xảy ra nhưng có 553 trường hợp mắc bệnh (giảm 6,3% so cùng kỳ), không có trường hợp tử vong; sốt xuất huyết có 366 trường hợp mắc bệnh (tăng 2,5% so cùng kỳ), không có tử vong do sốt xuất huyết. Bệnh nhân lao, phát hiện 445 bệnh nhân, có 02 trường hợp bệnh nhân lao tử vong (tổng số bệnh nhân lao hiện đang quản lý điều trị là 385 trường hợp). Bệnh phong phát hiện 02 bệnh nhân mới, toàn tỉnh hiện đang quản lý điều trị 223 bệnh nhân phong, chăm sóc cho 173 bệnh nhân phong tàn phế. Công tác phòng chống HIV/AIDS, phát hiện 151 trường hợp nhiễm mới, số nhiễm HIV tích lũy tính đến nay là 1.560 trường hợp, tử vong do AIDS tích lũy là 384 trường hợp.
Công tác kế hoạch hóa gia đình và tiêm chủng mở rộng tiếp tục được đẩy mạnh, từ đầu năm đến nay, đã tiêm chủng đầy đủ cho 17.299 trẻ dưới 1 tuổi đạt 82,5% kế hoạch. Tiêm phòng uốn ván cho 11.401 phụ nữ có thai (đạt 95,7% kế hoạch) và 11.139 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đạt 91,5% kế hoạch. Toàn tỉnh có 73.362 người đang sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, trong đó sử dụng bao cao su 34.898 trường hợp; uống thuốc tránh thai 26.270 người; tiêm thuốc tránh thai 10.812 người, cấy thuốc tránh thai 30 người, đặt vòng 1.335 người và đình sản 48 người.
Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm. Công tác quản lý thực hiện quản lý giá thuốc tại các cơ sở kinh doanh dược trên địa bàn. Tính đến nay toàn tỉnh có 12.721 cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm. Đã tổ chức 180 đợt thanh kiểm tra, hậu kiểm trên địa bàn tỉnh. Kết quả kiểm tra chỉ có 82,6% cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm có giấy phép kinh doanh đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
6. Tình hình thiệt hại lũ, lụt:
11 tháng năm 2010 tình hình thiệt hại do thiên tai mưa lớn kèm theo lốc xoáy gây ra đã làm ngập 115 căn nhà, diện tích rau, hoa màu bị hư hỏng là 773 ha, 231 ha lúa bị ngập, sập 4 căn nhà, 14 căn nhà và 5 phòng học bị tốc mái, 7,5ha diện tích nhà kính trồng rau hoa bị sập, làm chết 2 con bò, 33 con lợn, 500 con gà; ngoài ra còn hư hỏng một số công trình văn hóa, phúc lợi và sạt lở một số công trình thủy lợi, giao thông. Tổng thiệt hại do mưa lũ gây ra ước tính khoảng 47,8 tỷ đồng. Trước tình hình đó, tỉnh và các địa phương bị ngập lụt đã chủ động và tích cực triển khai công tác phòng chống, khắc phục hậu quả nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do lũ lụt gây ra về người và tài sản.
7. Bảo vệ môi trường:
Vấn đề về môi trường, bảo vệ môi trường tiếp tục duy trì, vùng thành thị xử lý khá tốt lượng rác thải hàng ngày, tình trạng ô nhiễm hồ, sông suối còn tồn tại nhưng không đáng kể, tình trạng cháy rừng và nạn phá rừng vẫn xảy ra nhưng không có tình trạng cháy rừng nguy hiểm, để bảo vệ môi trường và tài nguyên rừng, đồng thời tạo thu nhập cho người nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong năm 2010 với gần 19.000 hộ tiếp tục nhận khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích 351.936ha. Bên cạnh đó tiếp tục đầu tư trồng mới rừng (4.740ha) tăng 9,39% so năm 2009 góp phần giữ gìn và tạo môi trường tốt hơn. Tuy nhiên, trong năm tình trạng khô hạn kéo dài nên việc cung cấp nước và điện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân thường xuyên bị cắt.
8. Tình hình đời sống dân cư và giúp đỡ các đối tượng chính sách, đối tượng khó khăn:
Năm 2010 tình hình kinh tế tỉnh lâm Đồng gặp những khó khăn nhất định, việc cải thiện đời sống của nhân dân còn chậm, đặc biệt là những người có thu nhập thấp. Nhưng với sự nỗ lực, quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và các đoàn thể quần chúng tiếp tục triển khai các chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc, các chương trình mục tiêu, dự án hỗ trợ sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Theo số liệu của sở Lao Động – TBXH tỉnh Lâm Đồng tính đến cuối năm 2010 toàn tỉnh còn 14.200 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,97%, giảm 3,07% so với đầu năm; trong đó hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn 7.940 hộ, chiếm tỷ lệ 14,81%, giảm 9,03% so với đầu năm.
Toàn tỉnh hiện còn 4.669 hộ nghèo thiếu đất sản xuất. Tỉnh đã giao đất sản xuất cho 3.158 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, giao đất rừng sản xuất cho 96 hộ với mức 0,5ha/hộ và giao khoán bảo vệ rừng cho 1.415 hộ với tổng diện tịch trên 30 ngàn ha. Thực hiện chương trình lồng ghép giữa đề án hỗ trợ hộ nghèo và nhà ở, năm 2010 đã cấp được 3.865 căn nhà, trị giá mỗi căn 23 đến 25 triệu đồng. Ngoài ra, tỉnh còn triển khai đề án giảm nghèo huyện Đam Rông theo Nghị quyết 30a của Chính Phủ; sử dụng ngân sách tỉnh để đầu tư cho 15 xã và 84 thôn, buôn có tỷ lệ hộ nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề và giải quyết việc làm, ổn định đời sống đối với với có thu nhập thấp; triển khai các chương trình đầu tư phát triển kinh tế – xã hội như chương trình 134, 135 và các chương trình mục tiêu quốc gia. Thực hiện tốt các chính sách về đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ lao động mất việc làm. Có 14.419 đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ, tăng 2.761 đối tượng so với năm 2009.
Phong trào đền ơn đáp nghĩa được quan tâm thiết thực hơn. Nhân dịp Xuân Canh Dần 2010 Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã có chủ trương thăm hỏi, trợ cấp, tặng quà các đối tượng chính sách, đối tượng khó khăn, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, cán bộ lão thành cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội. Tổng kinh phí hỗ trợ trên 14,8 tỷ đồng, bằng 1/3 so với tết Kỷ Sửu 2009 (vì do hộ nghèo năm 2009 được hỗ trợ thêm từ ngân sách trung ương); trong đó tổng số tiền hỗ trợ cho hộ nghèo là 4.575,6 triệu đồng với 22.878 hộ, mức hỗ trợ 200.000 đồng/hộ; đối tượng hưởng bảo trợ xã hội với mức hỗ trợ 100.000 đồng/người với 11.528 người tổng số tiền là 1.152,8 triệu đồng. Riêng một số gia đình chính sách tiêu biểu nhân dịp này UBND tỉnh Lâm Đồng và các ban ngành chức năng đến thăm hỏi, tặng quà trị giá 700.000 đồng/suất (trong đó tiền mặt 500.000 đồng) với tổng số tiền trên 6,1 tỷ đồng. Ngoài ra một số địa phương trong tỉnh tặng quà hỗ trợ thêm cho 1.241 hộ, chủ yếu là các hộ nông nghiệp đang gặp khó khăn trong thời kỳ giáp hạt.
9. Tình hình an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội:
Để hạn chế đến mức thấp nhất tình hình tai nạn giao thông trong năm 2010, các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị, các địa phương đã có nhiều cố gắng trong công tác tăng cường phổ biến pháp luật về trật tự an toàn giao thông, khắc phục kịp thời các “điểm đen” tai nạn giao thông. Đồng thời kiểm soát và xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm để nhằm kiềm chế tai nạn giao thông. Tuy nhiên tình hình trật tự an toàn giao thông vẫn diễn biến phức tạp nhất là các địa bàn đông dân cư, địa bàn có đường quốc lộ, tỉnh lộ đi qua. Số vụ tai nạn giao thông vẫn tăng, nguyên nhân gây tai nạn nhiều nhất là do ý thức chấp hành luật giao thông còn hạn chế. Theo báo cáo của Công An tỉnh Lâm Đồng, 11 tháng năm 2010 toàn tỉnh đã xảy ra 171 vụ tai nạn giao thông, làm chết 168 người, bị thương 97 người. Số vụ tai nạn giao thông tăng 22 vụ (tăng 14,77%), số người chết tăng 26 người (tăng 18,31%) và số người bị thương tăng 11 người (tăng 12,79%) so cùng kỳ năm 2009, riêng trong tháng 11/2010, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông làm 9 người chết và 5 người bị thương.
B. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011:
1. Những thuận lợi và khó khăn:
Thuận lợi: Nền kinh tế Lâm Đồng vẫn đang trên đà phát triển với tốc độ cao hơn mức trung bình của cả nước, tình hình kinh tế – xã hội vẫn tương đối ổn định. Kết cấu hạ tầng, năng lực và trình độ sản xuất của nhiều ngành kinh tế đã tăng lên đáng kể, đặng biệt là một số công trình dự án mới đưa vào hoạt động trong năm 2011; công tác đô thị được nâng cấp, chất lượng tăng trưởng kinh tế đã có bước cải thiện đáng kể; nền kinh tế của tỉnh đang thích nghi dần với thị trường quốc tế và khu vực.
Việc triển khai các cơ chế, chính sách mới co tác động tích cực trong việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong quản lý đời sống và xã hội. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng tạo thế và lực cho kinh tế cả nước nói chung và Lâm Đồng nói riêng.
Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, chúng ta vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, phức tạp do diễn biến bất thường về thiên tai, dịch bệnh và các yếu tố bất lợi của tình hình kinh tế thế giới, trong nước…Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Lâm Đồng đang đứng trước những khó khăn và thách thức lớn..
Nền kinh tế Lâm Đồng tuy có tốc độ tăng trưởng khá, nhưng chưa bền vững, cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nền kinh tế; cơ sở hạ tầng vẫn còn khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp…
Khả năng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của các doanh nghiệp Lâm đồng còn thấp xa so với yêu cầu, sức ép cạnh tranh trên thế giới và khu vực tiếp tục gia tăng. Doanh nghiệp trong tỉnh gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu, thu hút đầu tư, ảnh hưởng tới việc làm và thu nhập của người lao động.
Công tác cải cách thủ tục hành chính chưa đồng bộ và chưa đạt hiệu quả cao; thu nhập và đời sống của nhân dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn; vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn về an ninh, trật tự ỡ lĩnh vực tôn giáo và trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu; chất lượng nguồn nhân lực hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, kiếu nại, tố cáo và âm mưu chống phá của các thế lực thù địch…. Cơ sở hạ tầng giao thông chưa được đầu tư đúng mức, các tuyến đường quốc lộ chính bị xuống cấp, đặc biệt là quốc lộ 20 và QL 27; chất lượng các tuyến đường chưa được cải thiện so với những năm trước.
2. Một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2011:
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Đảng bộ tỉnh về tăng trưởng GDP từ 15 – 16%, cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
a- Tiếp tục triển khai các chương trình kinh tế trọng tâm và công trình trọng điểm theo Nghị quyết của Tỉnh ủy, trong năm 2011 tập trung sức chỉ đạo, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện 5 khâu đột phá, 16 công trình trọng điểm sớm đưa vào khai thác, sử dụng; nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ có tiềm năng, thực hiện các chính sách để khuyến khích tiêu dung hàng nội địa, đẩy mạnh xuất khẩu; tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thúc đẩy phát triển sản xuất đi đôi với thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân.
b- Thực hiện có hiệu quả chương trình nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Tiếp tục thực hiện chương trình về nông nghiệp, nông nghiệp, nông dân, nông thôn; chỉ đạo nhân rộng các mô hình sản xuất chất lượng cao và đẩy nhanh việc thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu giống các loại cây chè, cà phê, điều, dâu tằm, rau hoa, cao su, ca cao…Thực hiện tốt các chương trình, đề án hỗ trợ phát triển chăn nuôi cho người sản xuất. Tăng cường hơn nữa trong ông tác khuyến nông, khuyến lâm.
c- Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh công tác quy hoạch chi tiết đô thị, quy hoạch sử dụng đất, đầu tư hạ tầng đô thị để đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn đầu tư phát triển. Khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại. Tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh các dự án đầu tư ngoài ngân sách. Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến để thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, cởi mở; thực hiện tốt các chính sách ưu đãi để mở rộng thực hiện trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội.
d- Tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, nước đến các khu công nghiệp, du lịch để tạo được thế thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, du lịch. Đầu tư nâng cấp các khu vui chơi giải trí hiện có đi đôi với xây dựng các khu du lịch; giữ gìn tôn tạo các khu di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh. Triển khai nhanh quy hoạch chi tiết các điểm du lịch, các danh lam thắng cảnh để tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư. Tập trung xây dựng các khu tái định cư, tái định canh. Thực hiện tốt Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, đảm bảo an sinh xã hội.
e- Tiếp tục thực hiện tốt cải cách thụ tục hành chính. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính và giải quyết các thụ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vào áp dụng. Tăng cường công tác thanh kiểm tra công vụ, tập trung kiểm tra công tác cải cách hành chính.
f- Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ, công chức các ngành, các cấp nhằm chuẩn hóa trình độ cán bộ công chức. Tăng cường chống tham nhũng, thực hiện tiết kiệm chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách Nhà nước, nâng cao hiệu quả đầu tư công.
h- Tăng cường hợp tác và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội./-