Trang trước  ||  MỤC LỤC  ||   Trang sau

 
 

 

NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN

Khoảng 8 giờ sáng ngày 27.11.1976, đoàn xe bắt đầu lăn bánh hướng về Bảo Lộc. Chúng tôi hát, hát suốt cả chặng đường dài, hát khan cả cổ; xe qua thị trấn Di Linh, rồi qua Bảo Lộc... vẫn chưa đến Hà Giang, nơi mà chúng tôi đang đến. Tôi và các bạn trên xe chưa ai biết Hà Giang. Hà Giang đối với chúng tôi rất mới mẻ và vô cùng hấp dẫn.

Hơn 13 giờ, chiếc xe bỏ đường 20, rẽ phải.

Tôi hỏi bác tài: Đến rồi hả bác?

- Chưa đâu các cậu ! Đây mới đến ngã ba Madaguoi, còn xa lắm, trên vài chục cây số nữa.

Con đường quá xấu, lại hẹp, chỉ đủ 1 chiếc xe đi, con đường của những người đi khai thác gỗ. Hai bên đường cây cối rậm rạp. Xe đi dưới cái nắng gay gắt, bụi tung mù mịt. Xe chạy sau không thể nào nhìn thấy xe trước; tất cả chúng tôi đều đổi màu một cách nhanh chóng. Đi suốt cả chặng dài, chúng tôi không hề thấy một bóng nhà, thôn, xóm.

Gần 15 giờ chiều, xe dừng lại. Trước mặt chúng tôi là một con sông, nước trong xanh thấy được cả những viên đá cuội dưới lòng.

Cuộc hành trình bằng đôi chân bắt đầu. Chúng tôi chia thành từng nhóm, đi sát bên nhau để lội qua sông những đoạn sông cạn nhất, nơi sâu cũng chỉ đến 1 mét nhưng nước chảy hơi xiết. Khó khăn nhất là ở các bạn nữ, nhưng rồi chúng tôi cũng đã qua sông một cách bình yên.

Đoàn người đi dãn ra, kéo dài cả cây số, chưa bao giờ chúng tôi "nếm mùi" đi bộ như thế này. Mệt, nhưng thật là vui, cảnh vật đối với chúng tôi thật là hấp dẫn, có những đoạn đường phía trên cây đan kín. Con sông cuối cùng chúng tôi vượt qua (sông Đạ Tẻh) nối hai bờ bằng những cây tre to như những bắp chân.

Chập choạng tối, chúng tôi đã đến được nơi gọi là "Nông trường Hà Giang", chúng tôi may mắn là được bố trí ở điểm gần nhất có cái tên nghe là lạ "B2". ở tại đây bố trí 2 đại đội, các đại đội TNXP khác còn phải đi tiếp. Xa hơn là A19 - cách chúng tôi khoảng 3 km, còn một số phải đến B5 ven sông Đồng Nai, cách khoảng 5 km.

Lần đầu tiên chúng tôi biết thế nào là ăn, ở tập thể; những ngôi nhà dài khoảng vài chục mét được gọi là Sam; giường là những tấm phên đan bằng lồ ô dập dập. Mỗi chiếc "giường" như thế ngủ được cả tiểu đội; đèn là những chiếc lon sửa bò thắp bằng dầu Gazon. Cái đêm đầu tiên đến với chúng tôi thật là êm ả, có tiếng dế, tiếng ếch nhái ru trong từng giấc ngủ cộng với cái mệt nhọc của một chặng đường dài đi bộ.

Bữa cơm sáng đầu tiên, chúng tôi được thưởng thức món nước mắm Hà Giang (nước muối + bột ngọt và gạo rang cháy làm màu). Những ngày tiếp theo thực phẩm luôn là vấn đề nan giải, thực phẩm từ bên ngoài không thể đưa về được, nguồn tại chỗ có rau muống, cải nhưng rất ít, còn cá đánh ở sông Đồng Nai không thể cung cấp đủ cho gần 500 con người của cả nông trường. Có hôm chúng tôi được nếm món cá sông muối, trước đây nông trường đánh cá ăn không hết nên phải muối, món cá muối có mùi chẳng hấp dẫn với chúng tôi tí nào cả, 10 người thì hết 8 người không thể dùng được nó.

Đang sống ở thành phố, điều kiện sinh hoạt tương đối đầy đủ, môi trường mới đối với chúng tôi là một thử thách quá lớn. Sang 5 giờ dậy tập thể dục, 6 giờ ăn cơm, 6 giờ 30 chuẩn bị công cụ, tập hợp đội ngũ chỉnh tề trước khi ra đồng, tối sinh hoạt tập thể...

Dần dần chúng tôi cũng quen đi với nếp sống mới, không khí vui tươi, sôi nổi lấn át tất cả các công việc mệt nhọc hàng ngày, chúng tôi hiểu hơn về nghề nông và thấm thía câu nói của người xưa "hạt gạo - hạt vàng".

Từ nơi này tôi và các bạn khác đã tìm ra ý nghĩa của cuộc sống: cực khổ đâu phải là cái để làm ta sợ nó? Gian khổ nào bằng đánh Mỹ, gian khổ để dành cho ai?

Hơn 10 ngày sau, chúng tôi đăng ký vào lực lượng TNXP do Thành Đoàn Đà Lạt tổ chức, chúng tôi trở lại vùng đất này vào ngày Ông Táo về trời (10.2.1977) - Một quyết định mà 20 năm sau tôi không hề ân hận, trái lại có một chút gì đó tự hào của thời tuổi trẻ đã qua...

ĐỖ PHÚ QUỚI

 

Trang trước  ||  MỤC LỤC  ||   Trang sau

Về đầu trang