Trang trước   ||  MỤC LỤC  ||   Trang sau

 
 

TUỒI TRẺ ĐẢ LẠT THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1954)

 

tuổi "cổ lai hy", ngồi ôn lại những hoạt động của tuổi trẻ Đà Lạt, mà mình đã góp phần lãnh đạo, là một điều thú vị.

Cách đây, gần nửa thế kỷ, những người ngày nay gọi bằng "cụ", thì lúc bấy giờ tóc vẫn còn xanh. Với tuổi thanh niên đi vào cách mạng, đi vào kháng chiến, ở vào cương vị lãnh đạo, điều họ gần gũi và quan tâm đến thanh niên, chủ tương vận động thanh niên để hành động cách mạng, để hoạt động kháng chiến là tất nhiên, gần như "bản năng" của tuổi trẻ. Chính vì thế mà có thời kỳ ta chưa hề đọc được một chữ trên văn bản ghi về chủ trương của lãnh đạo đối với việc vận động thanh niên, nhưng ta lại chứng kiến khá đầy đủ về sự vận động thanh niên trên thực tế.

Tôi không có ý định viết về tuổi trẻ Lâm Đồng nói chung, mặc dù trong kháng chiến chống Pháp, tôi ở cương vị lãnh đạo tỉnh Đồng Nai Thượng và tỉnh Lâm Đồng cũ, mà tôi viết về tuổi trẻ Đà Lạt, vì tuổi trẻ Đà Lạt có những nét tiêu biểu cho tuổi trẻ Tuyên Đức, chắc chúng ta đều biết Tuyên Đức là một thành phần cấu tạo nên tỉnh Lâm Đồng ngày nay.

...

Từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến khi xây dựng và phát triển phong trào ở Đà Lạt (1946-1950) lực lượng kháng chiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có tuổi trẻ Đà Lạt đã sống và chiến đấu trong bối cảnh lịch sử khắc nghiệt.

Giặc Pháp chiếm đóng Đà Lạt

Lực lượng kháng chiến đã chiến đấu ngoan cường để bảo vệ chính quyền còn non trẻ, vừa mới giành được. Nhưng cuộc chiến đấu không cân sức, nên lực lượng kháng chiến đã phải bật ra khỏi thành phố, bật ra khỏi chiến trường và trụt dài xuống tỉnh bạn. Nhân dân tản cư, phải hồi cư về vùng tạm bị chiếm; tổ chức cơ sở cách mạng tan vỡ, rời rạc. Lực lượng vũ trang hoạt động trên một chiến trường gần như cô lập, thiếu bàn đạp trực tiếp để đứng chân. Phải tổ chức các đội công tác bám cơ sở để hoạt động.

Cán bộ lãnh đạo một số bị bắt, một số bị hy sinh, từ giữa năm 1948 Uỷ ban kháng chiến và Mặt trận Việt Minh không còn nữa.

Với truyền thống đấu tranh được hun đúc, nhất là ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Tám năm 1945, cơ sở cách mạng trong nội thành trong lúc chưa liên lạc được với lãnh đạo vẫn hoạt động, tuyên truyền giác ngộ, vận động quần chúng tham gia kháng chiến. Có cơ sở trong hàng ngũ địch đã tổ chức lấy súng và đồ dùng trong kho đưa ra ngoài chiến khu; có cơ sở đã vận dụng các tổ chức công khai hợp pháp để hoạt động.

Đầu năm 1950, Thị ủy Đà Lạt được thành lập, đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng của phong trào kháng chiến của Đà lạt và tuổi trẻ Đà Lạt lại có một cơ hội phát huy nhiệt tình và sức bật của mình.

Thị ủy Đà Lạt được thành lập, chiến trường Đà Lạt được tăng cường thêm cán bộ, chiến sĩ. Các đội vũ trang tuyên truyền được thành lập. Các hướng của thành phố, kể cả nội ô đều có đội công tác hoạt động.

Được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, cơ sở cách mạng được hình thành tổ chức, nhất là công nhân, thanh niên, phụ nữ (phụ nữ ở chợ thành lập tổ chức phụ nữ "Minh Khai"), có sự chỉ đạo chặt chẽ. Năm 1950, toàn thị xã xây dựng được trên 2.000 cơ sở cách mạng. Trong thanh niên, học sinh và công nhân có phong trào thoát ly ra chiến khu tham gia kháng chiến, trực tiếp đánh giặc.

Đà Lạt lại thêm một thuận lợi khác. Để thống nhất sự chỉ đạo trên chiến trường nam Tây Nguyên, tháng 10.1950, hai tỉnh Đồng Nai thượng và Lâm Viên sát nhập thành tỉnh Lâm Đồng. Ban cán sự tỉnh Đảng bộ Lâm Đồng chủ trương tăng cường chỉ đạo Đà Lạt và miền tây bắc Lâm Đồng, tạo thế bàn đạp ngoại vi trực tiếp cho Đà Lạt.

Việc thành lập đội cảm tử Phan Như Thạch (đội viên là công nhân, thanh niên, học sinh mới thoát ly) đánh dấu một bước mới trong hoạt động vũ trang ở nội thành. Tuổi trẻ Đà Lạt đã làm nên những sự tích vang dội. Trong vụ giết tên Haasz, Phó thanh tra Mật thám Đông Dương, giặc Pháp đã hèn hạ trả thù, đem xử bắn 20 người yêu nước ở khu rừng gần sân bay Cam Ly đã gây sự chấn động lớn ở Đông Dương và sự náo động trong Quốc hội Pháp về tội ác của thực dân Pháp và sự an toàn của Đà Lạt mà chúng thường rêu rao.

Ai có thể quên được cuộc đình công bãi thị của các giới đồng bào Đà Lạt để kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ năm 1951, mà lực lượng học sinh, sinh viên, tuổi trẻ Đà Lạt là lực lượng xung kích. Tuổi trẻ Đà Lạt có một đàn em là thiếu niên, thiếu nhi tuổi nhỏ mà kiên cường đã ném bánh trung thu trả lại cho Bảo Đại trong một tết trung thu tổ chức tại Dinh Bảo Đại; đã nghỉ học để kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ kính yêu; đã nuôi gà kháng chiến; đã bắt học sinh là con bọn mật thám, tay sai của địch ở trong các trường học, phải tuân theo "mệnh lệnh" và ăn cắp đạn giao cho các em "chỉ huy" đưa ra chiến khu.

Nhân dân Đà Lạt đã chứng kiến và phấn khởi tự hào với những thành tích diệt tề trừ gian của các đội vũ trang, mà tuổi trẻ Đà Lạt là nòng cốt, trong phong trào làm cho "hồ Xuân Hương dậy sóng" và nhân dân cũng vô cùng thương tiếc và khâm phục tấm gương dũng cảm hy sinh của Lê Trần Thái, tiêu biểu cho tuổi trẻ Đà Lạt trung kiên.

Một bước ngoặt mới, một sự chuyển mình gần như thay hình đổi dạng đối với phong trào Đà Lạt, mà sự hoạt động theo một tập quán cũ. Đó là sự chuyển phương châm, phương thức hoạt động trên một chiến trường miền Nam sau lưng địch. Tháng 9.1951 Ban cán sự cực nam đã xác định "Lâm Đồng là chiến trường chính của cực nam nhưng là chiến trường gây cơ sở", mà hướng chính là vùng tây bắc Lâm Đồng... phương châm được chỉ đạo là vùng "kiên trì vận động cách mạng, tiến hành gây cơ sở". Đối với Đà Lạt, một vị trí chiến lược quan trọng đối với Tây Nguyên và cả Nam Đông Dương cần vận dụng phương châm "kiên trì vận động cách mạng, súc tích lực lượng, đẳng đãi thời cơ".

Để thực hiện việc chuyển hướng phương châm nói trên, Thị ủy được tăng cường cán bộ lãnh đạo để củng cố, phân Ban cán sự miền tây bắc Lâm Đồng được thành lập để chỉ đạo thị xã Đà Lạt và huyện chiến đấu. Lực lượng họat động trên chiến trường với phương thức cảm tử đội và các đội vũ trang tuyên truyền được thay bằng các đội xây dựng cơ sở.

Nhưng trong nội bộ cán bộ chiến sĩ lại nói lên cuộc đấu tranh tư tưởng day dứt nhất đó là từ hoạt động bề nổi, nay chuyển sang hoạt động "tiến hành gây cơ sở", nhất là sự hạn chế với khuynh hướng thủ tiêu hoạt động vũ trang, với tư tưởng nôn nóng, ngại kháng chiến lâu dài, ngại kiên trì vận động cách mạng, nó biểu hiện trong tuổi trẻ Đà Lạt rất rõ nét.

Mặt khác, khó khăn lại dồn dập, do hoạt động của địch trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế v.v với âm mưu, thủ đoạn, quỷ quyệt, ác liệt hơn trước. Cộng với tác hại của thiên tai, do cơn bão tháng 10.1952 làm cho ta càng điêu đứng.

Với tinh thần kiên trung, quyết tâm bám trụ chiến trường, lực lượng kháng chiến trong đó có tuổi trẻ Đà Lạt đã chịu đựng và vượt qua thử thách khốc liệt nói trên để hoàn thành nhiệm vụ của thời kỳ mới đặt ra. Từ đầu năm 1952 cho đến khi kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp, trên chiến trường Đà Lạt, từng bước đã phục hồi cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới. Những cơ sở trung kiên, phần lớn là thanh niên, được chọn lọc, tổ chức đội quân ngầm (lực lượng vũ trang ngầm) chuẩn bị cho thời cơ sắp tới. Các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ, mặt trận được tập hợp hội viên, hình thành đội ngũ. Và những cuộc đấu tranh cũng từng bước khơi dậy như cuộc đấu tranh đòi giảm thuế chợ của tổ chức "Minh Khai" ở chợ. Nổi lên là cuộc đưa đám tang của bà Nguyễn Thị Xuân (bà Xu Nguyên) cơ sở cách mạng bị địch bắt tra tấn đến chết. Cuộc đưa đám tang biến thành cuộc biểu tình tuần hành tố cáo tội ác của địch, nhất là đến gần cuối cuộc chiến tranh, những cuộc đấu tranh chính trị như phá cuộc bầu cử hội đồng thành phố, đấu tranh binh vận và chống bắt linh càng sôi nổi. Cơ sở cách mạng tiếp tục củng cố và phát triển, phong trào kháng ciến và phong trào đấu tranh tiếp tục dâng lên thì chiến tranh được chấm dứt.

Tuổi trẻ Đà Lạt đã đóng góp phần tích cực của mình cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc bằng những hoạt động nói trên suốt cả thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Một câu hỏi đặt ra: Quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Đà Lạt, Đảng có chủ trương gì đối với thanh niên (tuổi trẻ Đà Lạt), mặc nhiên khi bàn cần thực hiện một chủ trương công tác nào đó, giới thanh niên được đề cập đến trước tiên và việc xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng cũng cần quan tâm đến thanh niên trước hết. Điều này cũng dễ hiểu, vì một số đồng chí lãnh đạo cao nhất ở đây lúc bấy giờ cũng là thanh niên; trong tiềm thức cũng như nhận thức của họ vẫn thấy thanh niên là rường cột của nước nhà.

MAI XUÂN NGỌC

 

 

Trang trước   ||  MỤC LỤC  ||   Trang sau

Về đầu trang