Trang trước || MỤC LỤC || Trang sau |
|
TÔI
ĐẾN VỚI HỘI THANH NIÊN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
Quả
thật là mãi cho đến sau ngày giải phóng, tôi mới hay rằng những
năm tháng trước đó mình đã được tham gia trong một tổ chức
hoạt động bí mật của Chi đoàn sinh viên - học sinh nội thành
Đà Lạt, Chi đoàn thanh niên nhân dân Cách mạng miền Nam.
Những
năm 1969-1970, phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh các
đô thị miền Nam bùng lên mạnh mẽ. Những người chị, người
anh của tôi lần lượt bị bắt vào tù cùng với nhiều anh chị
khác. Lúc ấy, tôi cũng mới 11, 12 tuổi, chỉ nhận biết mang máng
rằng anh chị mình đã bị chính quyền Sài Gòn thời bấy giời bắt
bớ, đánh đập, tra tấn dã man chỉ vì tham gia phong trào yêu nước.
Mẹ tôi dẫn tôi lặn lội đi các nhà giam để thăm nuôi các
anh, các chị, trong lòng lúc ấy đã khắc sâu một câu hát mà
tôi đã được các anh, các chị dạy cho: Có người mẹ Bàn Cờ
Tay
gầy tóc bạc phơ
Chuyền
cơm qua vách cấm
Khi
ngoài trời đổ mưa
Gia
đình tôi có 5 anh chị em, thời bấy giờ hết 3 người đã bị
chính quyền Sài Gòn bắt giam vì tội tham gia hoạt động trong
phong trào sinh viên học sinh yêu nước và tội trốn lính. Mẹ của
tôi tất nhiên không phải là người mẹ Bàn Cờ như trong câu hát
ấy, nhưng tay mẹ cũng gầy, tóc mẹ cũng bạc phơ, cũng đã từng
chuyền những gói cơm, những bịch nước qua cửa nhà lao để rồi
khi hết giờ thăm nuôi thì đứng lặng người nhìn các anh, các
chị dìu dắt nhau đi khuất dần sau hàng song sắt lạnh lẽo.
Những
năm ấy, gia đình tôi hoang vắng, chỉ có hai mẹ con lủi thủi có
nhau. Bù lại, chị Thu Uy(1)
Năm
1971-1972, tôi theo mẹ tôi vào Sài Gòn để đi thăm nuôi các
anh chị trong nhà lao và được dịp chứng kiến một thời kỳ sôi
động của phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh yêu nước
Sài Gòn - Gia Định, tôi được các anh chị dẫn đến trụ sở Tổng
hội sinh viên Sài Gòn lúc bấy giờ và được sống trong tình cảm
yêu thương chan hòa của các anh các chị, tận mắt nhìn thấy
những anh chị sinh viên học sinh mình đầy thương tích, đôi mắt
đỏ cay và máu hồng còn loang trên áo vì phi tiễn, dùi cui ma
trắc, lựu đạn cay sau những cuộc đấu tranh vì hàng loạt những
cuộc tra tấn cực hình sau những ngày giam cầm trong chuồng cọp,
chuồng bò và vô số những hình phạt vô nhân đạo khác. Các
anh các chị dạy cho tôi thuộc nằm lòng những bài hát trong tập
"Hát cho đồng bào tôi nghe" do sinh viên sáng tác, cho
tôi nhiều sách báo của phong trào. Tôi đem về Đà Lạt cất giữ
như những kỷ vật quý giá vô cùng. Đọc tới đọc lui những tờ
báo của phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn, tôi chợt nảy ra
ý định làm một tờ báo của giới học sinh Đà Lạt để nói lên
những suy nghĩ của mình.
Tôi
đem ý tưởng đó trình bày với chị Thu Uy và nhờ chị giúp
đỡ để thực hiện. Vài hôm sau, chị Thu Uy dẫn một người lạ
mặt đến nhà tôi và nói:
-
Đây là anh Hòa,(3)
Anh
Hòa người tầm thước, tính tình cởi mở, vui vẻ. Tôi gặp lần
đầu đã thấy mến ngay, biết tôi có ý định làm báo học trò,
anh khuyến khích động viên tôi lao vào cuộc, tôi quy tụ được
một nhóm anh em hầu hết là học sinh trường Trần Hưng Đạo, Bùi
Thị Xuân và bắt tay vào cho số báo đầu tiên. Tờ báo dưới
danh nghĩa "Tập san sinh họat văn nghệ học sinh " lấy tên
là "Trầm Hiện", một cái tên cũng rất chung chung và
ai nghe qua cũng dễ hiểu, chẳng qua "Trầm Hiện" là kết
quả của bài tập thực hiện một phản ứng hóa học tại phòng thí
nghiệm mà thời bấy giờ chúng tôi phải thực hành.
Tất
nhiên "Trầm Hiện" còn mang một ý nghĩa khác mà chỉ
anh Hòa và tôi hiểu ngầm với nhau về những mục đích sâu xa của
nó.
Chúng
tôi gom góp tiền bạc, bán xe đạp, bán tự điển, đi xin tiền
khắp nơi để ra số báo đầu tiên. Báo in ronéo, trình bày
trang nhã, nội dung có vẻ rất "người lớn" đối với lứa
tuổi lớp 11, 12 của chúng tôi thời bấy giờ. Anh Hòa góp nhiều
ý kiến về nội dung, đại để số đầu tiên nên từ từ, đúng
kiểu học sinh, chủ yếu đi vào sinh hoạt văn nghệ, một vài bài
có "ý tứ" hơn nhưng cũng xoay quanh chủ đề học
đường và những bức xúc về tương lai của lớp trẻ để tờ báo
có thể quy tụ và phù hợp với một lượng độc giả đông đảo
trong giới học sinh Đà Lạt. Những ngày làm báo là những ngày
anh em chúng tôi sống hết mình, lo lắng cho từng trang in, từng
mẫu chữ trình bày, chăm chút từng nội dung. Báo in xong tự tay
chúng tôi đóng, xén và đem đi đến từng lớp học để bán. Nói
chung bạn bè cùng lớp, cùng trường ủng hộ nhiệt liệt, kể cả
thầy cô giáo. Kết quả gần như tiêu thụ, nói theo nghĩa kinh tế
là đảm bảo thu hồi vốn và có lãi chút đỉnh để chuẩn bị
cho số báo tiếp theo.
Số
báo đầu tiên làm xong tôi đem đến ngay cho anh Hòa. Tôi còn
nhớ buổi chiều hôm ấy trời mưa rả rích. Tôi đội mưa leo lên
căn gác ọp ẹp mà anh Hòa đang trọ ở tại đường Thông Thiên
Học (gần tỉnh đội bây giờ). Anh Hòa đang bị cảm cúm, tự tay
pha cho tôi một ly nước chanh rồi cầm tờ báo đọc lướt qua một
lần. Anh nhìn sang tôi với đôi mắt thăm dò rồi cười nói:
-
Tờ báo này anh sẽ chuyển cho "các ảnh" xem, nếu
"các ảnh" có phê bình là "tiểu tư sản" thì
cũng ráng chịu nghe.
Trong
lúc tôi đang ngạc nhiên, định bụng sẽ hỏi lại cho biết thế
nào là "tiểu tư sản", "các ảnh" là ai thì
anh Hòa nghiêm trang nói tiếp:
-
Mình trao đổi với Hoàng việc này, việc làm của Hoàng và nhóm
anh em học sinh như vậy nói chung đã có bước khởi đầu tốt.
Riêng Hoàng, mình đề nghị Hoàng nên tham gia nhiều hơn với công
việc chung. Cụ thể là Hoàng nên tham gia vào hội Thanh niên giải
phóng miền Nam, một tổ chức cũng rất gần gũi với anh, chị của
Hoàng. Tổ chức này có liên lạc trực tiếp với các anh chị ở
chiến khu mà chắc Hoàng cũng đã nghe nói đến.
Quả
thật là tôi hết sức bất ngờ về lời đề nghị quá đột ngột
như vậy. Tôi đang còn rối ren giữa những từ ngữ rất mới mẻ
ấy thì anh Hòa lại nói tiếp:
-
Hè này anh em mình sẽ vào "rừng" để gặp "các ảnh".
Mặc
dù chưa hết ngạc nhiên và bất ngờ, nhưng trước cách đặt vấn
đề một cách trực khởi, đầy sự cảm tính của anh khiến tôi
nhanh chóng nhận ra một điều hệ trọng không thể chối từ. Tôi
còn nhớ rằng sau một hồi "trấn tĩnh", tôi nói:
-
Năm nay, em còn một việc quan trọng phải làm là học để thi tú
tài. Nếu tham gia lỡ thi rớt bị bắt lính cũng kẹt lắm.
Anh
Hòa không ngần ngại nói luôn:
-
Nam nhi chí trai có hàng trăm việc phải làm chứ nào chỉ một
việc. Vừa học vừa tham gia chẳng sao, học cũng là một nhiệm vụ
cách mạng vậy.
Và,
từ đó về sau, mỗi lần gặp nhau anh Hòa không nói gì thêm nữa
mà cũng không "bắt" tôi phải trả lời quyết định của
mình. Còn tôi thì vẫn vừa học vừa tiếp tục làm báo và một
số việc khác mà cả hai bàn bạc thống nhất cho đến ngày giải
phóng.
Sau
này, mỗi lần nhắc lại chuyện ấy tôi lại cảm động, có lẽ
qua thời gian và cùng làm việc với nhau, anh đã tìm hiểu rõ về
tôi, tin tưởng nơi tôi nên đã "dám" táo bạo đề cập
hàng loạt vấn đề "quốc cấm" với một cậu học sinh chân
ướt, chân ráo mà không sợ lụy đến mình.
Tuy
vậy, hễ khi gặp nhau, vui miệng tôi thường nói đùa:
-
Lúc đó anh nói y chang như sách của Lênin !
Anh
Hòa chỉ cười hì hì... Thời làm cán bộ Đoàn, có một bày học rất hay mà tôi nhớ mãi, đó là công tác tập họp đoàn kết thanh niên rất cần thiết phải có những hình thức tổ chức phù hợp với từng đối tượng thanh niên. Đối với cá nhân tôi thì quả là rất đúng, bởi vì tôi đã từng "bị" tập họp, "bị" giao nhiệm vụ mà mình đâu có hay. Mãi cho đến sau ngày giải phóng, tôi mới biết được rằng trước đó, mình đã tham gia và làm việc trong một tổ chức hẳn hòi của chi đoàn sinh viên học sinh nội thành Đà Lạt - Chi đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam hoạt động bí mật trong lòng thành phố.
CAO DUY HOÀNG
(1)Chị Võ Thị Thu Uy, nguyên cán bộ hoạt động nội thành Đà Lạt, sau ngày giải phóng là Hội phó Hội Liên hiệp Phụ nữ Đà Lạt. (2)Thẻ động viên tại chỗ là tấm thẻ mà chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ cấp cho mỗi thanh niên miền Nam khi đến tuổi 17 - Tuổi đôn quân bắt lính, trong đó có ghi rõ thời hạn buộc phải gia nhập quân đội Sài Gòn nếu không đựơc vào đại học hoặc không thi đỗ tú tài II (tốt nghiệp phổ thông trung học).
(3) Anh Nguyễn Hòa, nguyên cán bộ hoạt động nội thành thuộc chi đoàn sinh viên học sinh Đà Lạt, nay công tác tại Uỷ ban mặt trận tổ quốc tỉnh Lâm Đồng. |