Trang trước || MỤC LỤC || Trang sau |
|
NGỌN LỬA TRUYỀN THỐNG LUÔN NHẮC NHỞ THANH NIÊN
Đầu
năm 1966, tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam vô cùng sôi
động. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta - đế quốc Mỹ đã trở nên sâu
sắc. Sau khi quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam năm
1965, nội bộ nguỵ quân ngụy quyền lục đục, nổ ra đảo chính
liên miên. Chính sách quân phiệt phát xít Thiệu - Kỳ làm cho
yêu cầu dân chủ trở nên bức thiết. Thêm vào đó là tình hình
kinh tế khó khăn, đồng bạc Sài Gòn mất giá, đời sống quần
chúng lao động thêm cơ cực trong khi bọn tướng tá và tư sản
mại bản đua nhau làm giàu nhờ chiến tranh, sống một cách xa
hoa, trụy lạc.
Trên
toàn chiến trường miền Nam, các lực lượng vũ trang cách mạng
đã mở ra cao trào diệt quân Mỹ xâm lược, làm chủ nhiều vùng
nông thôn rộng lớn và các trục lộ giao thông huyết mạch, đã
tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh chính trị ở đô
thị.
Sự
kiện Thiệu - Kỳ ký "Hiến chương Honolulu" cam kết làm
tay sai đắc lực cho đến quốc Mỹ và bán đứng cảng Cam Ranh
99 năm đã tạo ra sự phẫn nộ cao độ trong quần chúng đô thị.
Tháng 3.1966 cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân và
sinh viên, học sinh Đà Lạt đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu
tranh chính trị chống Mỹ nguỵ cả tháng liền. Thành phố đã hình
thành hai chính quyền song song tồn tại: một của nhân dân, học
sinh sinh viên Đà Lạt và một của chính quyền tay sai Mỹ Thiệu.
Khởi đầu là ngày 28.3.1966, từ trường trung học Trần Hưng
Đạo, các cuộc biểu tình, bãi khóa của sinh viên, học sinh
đã nổ ra liên tiếp, kéo lan qua trường đại học và nhiều trường
trung học khác. Bên cạnh đó, quần chúng lao động và tiểu thương
đã đình công, bãi thị làm cho tình hình diễn biến nhanh chóng,
vượt mọi dự kiến của nhà cầm quyền tại Đà Lạt - Tuyên Đức.
Lực lượng đấu tranh đã tổ chức nhiều cuộc meetting lớn tại
trung tâm thành phố, chất vấn giám đốc phòng Thông tin Hoa Kỳ
đòi người Mỹ phải rút khỏi Đà Lạt, đấu tranh trực diện với
Nguyễn Thị Hậu - Thị trưởng Đà Lạt. Cao điểm của cuộc đấu
tranh là sự kiện chiếm đài phát thanh (nay là khách sạn Đà Lạt)
trong nhiều ngày và phát đi tiếng nói của lực lượng đấu
tranh. Sau nhiều lần giằng co, ngụy quyền tổ chức nhiều cuộc
đàn áp ác liệt và chiếm lại đài, lực lượng đấu tranh quyết
định phóng hỏa đài và rút lui.
Sự
kiện 1966 đã in đậm một dấu ấn lên trang sử truyền thống vẻ
vang của nhân dân Đà Lạt nói chung và của sinh viên học sinh
Đà Lạt nói riêng. Đó là một cuộc tập dợt lớn, dẫn đến cuộc
tập dợt thứ 2 (ngày 03.10.1971) và cuối những năm chiến tranh
chống Mỹ xâm lược là phong trào thanh niên sinh viên học sinh
Đà Lạt tham gia khởi nghĩa giải phóng thành phố thân yêu của
mình vào đầu tháng 4.1975.
Trong
giai đoạn từ 1970-1975, lực lượng cách mạng trong sinh viên học
sinh đã tạo được ảnh hưởng lớn trong trường Đại học Đà
Lạt, một số trường trung học và trong các nhóm đồng hương.
Ta đã được cán bộ cốt cán, cơ sở cách mạng cài vào nắm các
tổ chức công khai như: Đoàn viên Phật tử, tổng đoàn học
sinh, các ban đại diện sinh viên ở các khoa đại học Khoa học,
Sư phạm, Chính trị, Kinh doanh, Văn khoa... Mặt khác ta cũng
đã chủ trương thành lập nhiều tổ chức công khai khác để nêu
yêu sách với khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, hòa bình và dân tộc
tự quyết để làm phân tán hoặc vô hiệu hóa các mũi đánh phá
của địch đối với lực lượng ta. Chính nhờ đó mà về mặt công
khai, ta có thể huy động được đông đảo lực lượng quần chúng
tham gia các uộc đấu tranh chính trị khi cần thiết.
Trong
thời gian này, phong trào nội thành đã được sự lãnh đạo hết
sức chặt chẽ của Thị ủy Đà Lạt và Đội công tác sinh viên
học sinh. Chúng ta đã hình thành được một tổ Đảng với 2
đảng viên, 1 chi đoàn với 6 đoàn viên và 15 cơ sở mật cùng
hàng chục cảm tình cách mạng khác. Nhiều đoàn viên, cơ sở mật
đã được tổ chức đưa ra rừng để tham dự các lớp học tập
chính trị và phương thức hoạt động nội thành. Thông tin từ
căn cứ vào nội thành hầu như được thực hiện hàng tuần qua
mạng lưới giao liên và các hộp thư mật, điều đáng nói là
đường dây chỉ đạo của Thị ủy và lực lượng sinh viên học
sinh hoạt động nội thành được đảm bảo thông suốt cho đến
ngày giải phóng.
Tháng
9.1971, dưới danh nghĩa Đoàn sinh viên Phật tử Đà Lạt, chúng
ta đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo trong quần chúng nhân dân,
sinh viên học sinh và trí thức Đà Lạt nhằm lật tẩy trò hề bầu
cử độc diễn của Nugyễn Văn Thiệu. Từ đó phát động cuộc
đấu tranh chính trị tẩy chay bầu cử, đốt thẻ cử tri, không
đi bỏ phiếu... ngày 28.9.1971, một cuộc hội thảo với hàng trăm
người tham gia đã ra tuyên bố lên án trò hề bầu cử độc diễn
do ngoại bang đạo diễn trong không khí vô cùng sôi động đã
nổ ra thành cuộc biểu tình tràn ra đường phố, kéo theo cuộc
đình công, bãi thị của tiểu thương và công nhân. Lực lượng
hành động của sinh viên học sinh đã treo biểu ngữ, rải truyền
đơn đột kích ném bom xăng vào cảnh sát, cướp bích chương
bầu cử, liên doanh "dân chủ" của Thiệu thêm dấu vào
thành liên doanh "dân chửi" rồi treo ra đường phố, tổ
chức những buổi phát thanh, đấu lý với địch, tổ chức những
ngày xuống đường và những đêm không ngủ với chủ đề "Đốt
đuốc lên để soi rõ mặt quân thù"... Cuộc đấu tranh kéo
dài hơn một tuần lễ với hàng ngàn người tham gia làm cho ngày
bầu cử 3.10.1971 trở thành vô duyên tẻ nhạt, phố xá căng thẳng
bởi cảnh sát, xe tăng và súng đạn như một trận chiến giữa lòng
thành phố.
Sau
cuộc đấu tranh này, lực lượng của ta không những được bảo
toàn mà càng phát triển thêm nhiều cốt cán mới, tạo thuận lợi
cho phong trào.
Tháng
3.1975, nhận được chỉ thị của Thị ủy, Tổ Đảng và Chi đoàn
sinh viên học sinh nội thành đã nhanh chóng triển khai kế hoạch
chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa giải phóng thành phố Đà Lạt thân
yêu.
Sau
khi thị xã Buôn Mê Thuột được giải phóng và hàng loạt các
tỉnh miền Trung lần lượt thất thủ, địch càng hoang mang dao
động. Liên tục trong những ngày cuối tháng 3.1975, lực lượng
nội thành đã in và rải truyền đơn khắp các ngả đường
trong thành phố kêu gọi nhân dân không di tản, chống bắt lính,
đoàn kết tương trợ đấu tranh chống địch. Kêu gọi binh lính
và sĩ quan địch bỏ ngũ, đứng lên làm binh biến khởi nghĩa cùng
với nhân dân giải phóng thành phố. Lực lượng được phân công
tiếp cận các cơ quan địch và các cơ sở quan trọng như nhà máy
điện, nha địa dư, nhà máy nước, bưu điện, bệnh viện, viện
nguyên tử, viện Pasteur, kho bạc, cướp kho lương thực... Để vận
động nhân viên tiếp tục ở lại hoạt động đảm bảo đời sống
cho nhân dân, mặt khác, ta cài người nắm chắc một số đơn vị của địch, biến địch thành ta để hỗ trợ cho
lực lượng khởi nghĩa.
Đêm
31.3.1975, địch đốt các kho đạn và tháo chạy khỏi thành phố.
Lực lượng sinh viên học sinh một mặt phóng giao liên báo tin vào
căn cứ, một mặt huy động lực lượng tự trang bị vũ khí thành
lập Đội tự vệ Thành, triển khai chiếm giữ và bảo vệ các mục
tiêu quan trọng, phát loa phóng thanh kêu gọi ngụy quân, nguỵ
quyền giao nộp vũ khí, tổ chức lực lượng đi giải tán các nhóm
cướp bóc, hôi của... chiều ngày 21.4.1975, lực lượng nội thành
đã liên lạc được với Thị ủy và chính thức thành lập Uỷ
ban khởi nghĩa, lấy rạp hát Hòa Bình làm trụ sở chính và tiếp
tục phát thanh kêu gọi nộp vũ khí, tổ chức tuần tra bảo vệ
trong tình thế thành phố hết sức lộn xộn, điện nước bị cúp,
cướp bóc xảy ra ở một số nơi.
Lực
lượng tự vệ thành đã hoạt động có hiệu quả, sáng ngày
2.4.1975, tình hình dần dần ổn định, 10 giờ sáng ngày
2.4.1975, lực lượng khởi nghĩa của sinh viên học sinh và nhân
dân Đà Lạt đã treo lá cờ Mặt trận giải phóng đầu tiên trên
nóc rạp hát Hòa Bình và khẩu hiệu hoan nghênh Đà Lạt giải
phóng được treo ngay trung tâm thành phố. Từ lúc đó, tình hình
yên hẳn, tiến độ nộp vũ khí tăng nhanh cho đến sáng ngày
3.4.1975 các đơn lực lượng vũ trang và chính quyền Thị tiếp
quản thành phố.
Ngoại
trừ một số vụ cướp bóc,... xảy ra, nói chung ta tiếp quản thành
phố hầu như nguyên vẹn, không xảy ra một vụ cháy nổ hoặc phá
hoại nghiêm trọng nào, các hoạt động phục vụ đời sống nhân
dân thành phố được đảm bảo ngay từ đầu.
Giữa
những ngày hòa bình đầu tiên ở Đà Lạt, một sinh khí cách mạng
mới tinh khôi, một hào khí chiến thắng hừng hực khí thế cách
mạng tràn ra lan đến tận từng trái tim người, thổi bùng lên
bầu nhiệt huyết của thanh niên Đà Lạt, hàng vạn, hàng vạn những
cánh tay và những bước chân rầm rập trên đường phố tham gia
xây dựng cuộc sống mới và rồi từng đoàn hàng trăm, hàng ngàn
thanh niên giã từ thành phố thân yêu và - như những cánh chim
bay khắp bốn phương trời, họ lại tiếp tục ra đi làm nên những
chiến công mới trên các vùng kinh tế mới, công trình thủy lợi,
các công, nông, lâm trường,...
Năm
1975 khi mới giải phóng, thành phố Đà Lạt có 15.000 thanh niên
thì đến năm 1978 đã có trên 16.000 lượt thanh niên xung
phong, thanh niên xung kích có mặt trên khắp các trận địa sản
xuất và chiến đấu của tỉnh Lâm Đồng - trong số họ có cả
thanh niên đường phố, thanh niên trường học kể cả những
thanh niên đã có một thời lầm lỗi, nay giác ngộ đã hăng hái
tham gia, nhưng khí thế nhất, xúc động nhất vẫn là buổi ra quân
đầu tiên của tiểu đoàn thanh niên xung kích Núi Chai. Lúc ấy
năm 1976 thành phố Đà Lạt chia thành 3 khu phố trực thuộc tỉnh.
Khu phố I là nơi đông dân, thiếu đất sản xuất. Thực hiện sự
chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng ủy khu phố I có chủ trương đưa
một số bà con thiếu việc làm đi xây dựng vùng kinh tế mới Núi
Chai. Đảng kêu gọi thanh niên xung kích đi đầu khai hoang vùng
đất mới. Tuổi trẻ toàn khu phố hưởng ứng, chỉ trong một tuần
phát động đã có trên 300 thành niên đăng ký tên đường, lúc
này lại phát sinh một cái khó là ai cũng đòi đi không ai chịu
ở nhà, cuối cùng phải bình chọn và quyết định. Sau gần 1 tháng
chuẩn bị dụng cụ, phương tiện, đồng phục, tổ chức biên chế
và tập dượt đội hình, đội ngũ quân sự hóa. Sáng 12.6.1976
tại Thao trường thành phố, tiểu đoàn thanh niên xung kích Núi
Chai với áo đen bảng tên trắng xuất quân trong tiếng kèn đồng
rền vàng bài trong đội ngũ, người đưa tiễn rưng rưng một
niềm tự hào.
Và,
tiếp theo thanh niên Đà Lạt - Thanh niên Lâm Đồng luôn có mặt
trước tiên ở những nơi khó khăn nhất đã mở đầu xây dựng
7 vùng kinh tế mới, hàng chục nông lâm trường, là các công
trình thủy lợi trong tỉnh, với hàng trăm công trình Thanh niên
cộng sản ở khắp các lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, học tập...
với khẩu hiệu được người, được việc, được tổ chức, hàng
nàn thanh niên đã được kết nạp vào Đoàn qua các chiến dịch,
hàng trăm thanh niên tốt được giới thiệu vào các cơ quan nhà
nước và các trường đại học. Ngày nay nhiều đồng chí trưởng
thành từ các phong trào ấy đang giữ những vị trí quan trọng
trong xã hội. Qua phong trào tổ chức Đoàn lớn mạnh không ngừng,
mồ hôi công sức của tuổi trẻ Lâm Đồng đã để lại những dấu
ấn đẹp trên các vùng đất mà họ đã đi qua và có ai bảo
phong trào tuổi trẻ trong hòa bình không có hy sinh. Nếu trong
chống Mỹ cứu nước chúng ta có liệt sĩ Nguyễn Văn Liệt, liệt
sĩ Thái Kim Đăng, liệt sĩ Võ Văn Dũng, liệt sĩ Lê Văn Lưu...
và hàng ngàn liệt sĩ trẻ khác đã anh dũng hy sinh trên các
trận tuyến chống quân thù thì trong hòa bình ta cũng có liệt
sĩ Hồ Dư Lợi, liệt sĩ Nguyễn Thiết, liệt sĩ Hồ Thiện, liệt
sĩ Nguyễn Thị Vi và những thương binh khác, họ cũng đã dám
xả thân cho sự nghiệp xây dựng đất nước, tất cả họ đã cho
chúng ta lòng khâm phục và để lại một ngọn lửa truyền thống
vinh quang cháy mãi trong lòng lớp trẻ đã luôn nhắc nhở tuổi
trẻ hôm nay hãy ra sức học tập vươn lên đỉnh cao của trí tuệ
thời đại để trở thành lực lượng chủ lực đưa đất nước
đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sánh vai cùng bè bạn
năm châu, bốn biển. Phải chăng đây là một trận chiến đấu mới
không kém phần gian khổ và cũng đầy vinh quang sẽ tô thắm thêm
ngọn lửa truyền thống của tuổi trẻ tỉnh nhà. NGUYỄN TRỌNG HOÀNG
|