Trang trước || MỤC LỤC || Trang sau |
|
BƯỚC CHÂN CHƯA TRỞ VỀ
Con
đường từ ngã ba chùa Linh Sơn đến Viện Đại học Đà Lạt ngày ấy
hoa quỳ nở vàng rực rỡ, xen vào từng quãng là những cây anh đào
đã rụng hết lá và đang nở những nụ hoa đầu tiên màu hồng thắm
chuẩn bị đón Xuân sang. Các loại hoa dại khác màu sắc, từng khóm
nối nhau chạy mãi lên các mảng đồi xa. Tất cả đang lặng lẽ và
rung nhè nhẹ trong cái se lạnh của mùa noel trên thành phố cao nguyên.
Chỉ có bước chân học trò, những bước chân học trò là rộn ràng
ồn ã mà ta có thể phân biệt được đây là học sinh trường trung
học Bồ Đề, kia là học sinh trường nữ trung học Bùi Thị Xuân qua màu
sắc đồng phục của họ, còn các anh chị sinh viên Đại học Đà Lạt
thì nhiều màu sắc hơn. Con đường ấy ngày xưa có tên là đường
Võ Tánh - nhưng cũng ngày xưa ấy, đám sinh viên chúng tôi thường
gọi là "con đường học trò". Hòa vào cái vui của con đường học
trò và cái đẹp lặng lẽ của thiên nhiên đó, có một cặp tình nhân
thường ngày đếm bước bên nhau. Có lúc họ rời xa con đường của
chúng tôi chạy tung tăng trên sườn đồi, vượt lên đỉnh đồi để
rồi khuất sau những cụm thông già và sau đó lại thấy họ lang thang
bên bờ hồ. Ngày lại ngày, ở thung lũng tình yêu, lúc bên hồ Than
thở, khi ngồi tâm sự bên dòng suối Đatanla, khi đùa nghịch dưới
chân thác Prenn, rồi người ta lại thấy họ tà tà đếm bước trên hè
phố... Họ đi mãi và bên nhau mãi, tưởng như mọi phiền toái của sự đời không hề
liên quan gì đến họ và tưởng như họ không hề quan tâm đến bất
cứ điều gì ngoài tình yêu của hai người.
Thế
rồi một hôm người ta bỗng thấy Vũ, chàng trai - một trong hai người
của mối tình thơ mộng ấy lại xuất hiện trong đội ngũ sinh viên học
sinh tổ chức những đêm không ngủ với chủ đề "đốt đuốc lên
để soi rõ mặt quân thù". Anh chàng công tử bột (chúng tôi thường
gọi thế vì anh ta đẹp trai, trắng như con gái, ở nhà ngoài sách vở
ra không biết làm bất cứ việc gì vì đã có người nhà lo cho tất
cả) say sưa vỗ tay "hát cho dân tôi nghe", tham gia hội thảo vạch
mặt tội ác đế quốc Mỹ và tay sai...
Và
cũng từ ấy, ngoài những buổi ngồi trên giảng đường đại học nghe
các giáo sư giảng về gen di truyền, về phân loại động vật, thực vật,
các buổi thực tập tại phòng thí nghiệm sinh, hóa... và các buổi
đưa người yêu đi dạo trên đồi, dưới thác, Vũ còn có một công
việc đặc biệt khác, một công việc khó khăn và vô cùng nguy hiểm.
Đó là công tác cách mạng ngay trong lòng địch - Vũ được phân công
bí mật xây dựng một nhóm ái hữu Quảng Ngãi khoa Sinh Viện đại học
Đà Lạt, nắm quần chúng cốt cán, tuyên truyền cách mạng xây dựng
tổ chức đưa người của ta thâm nhập nắm các ban đại diện sinh viên.
Mùa
hè năm 1972, ta đánh lớn ở Quảng Trị, địch hoảng hốt đôn quân bắt
lính, chúng hạ tuổi hoãn dịch vì lý do học vấn xuống, thế là Vũ
và một số anh em lọt vào tuổi phải xếp bút nghiên để đi quân trường.
Khi
nhận được thư trả lời của Thị ủy Đà Lạt, anh em chúng tôi khấp
khởi sắm sửa và chuẩn bị mọi thứ để xếp bút nghiên thoát ly ra rừng
với nguyện vọng được trực tiếp cầm súng chiến đấu. Viện đại học
Đà Lạt lúc ấy chưa đến kỳ nghỉ hè nhưng trong không khí bị mãn
khóa, sinh viên đến trường thưa thớt, họ mời nhau đến nhà trọ hoặc
quán cà phê để chia tay nhau. Trong các buổi chia tay, bạn bè chúng
tôi đều dễ đồng tình với nhau là không đi lính cho "Sáu Thẹo",
còn đường đời muôn nẻo mỗi đứa một phương trời biết đâu mà
nói trước được, chỉ mong sao sau này còn có dịp gặp lại nhau. Thế
thôi. Duy có Vũ có lẽ vì buổi chia tay là nhiều khó khăn và cũng
không ít nước mắt vì Vũ không thể nói thật với người yêu là mình
đi đâu. Nguyên tắc bí mật mà. Nhưng nói cách nào để người yêu
thông cảm và bớt lòng về nhiều nỗi... Lại cũng chia tay một cách chung
chung ư? Hôm ra đi Vũ ít nói hơn mà chúng tôi cũng không hỏi vì
bận tâm cho việc tổ chức chuyến đi.
Sau
thời gian học tập và huấn luyện, Thị ủy cấp cho mỗi chúng tôi một
giấy hoãn dịch - tất nhiên là giấy giả - và giao nhiệm vụ cho nhóm
chúng tôi trở lại thành phố. Riêng Vũ còn ở lại một thời gian nữa
rồi sẽ ra sau. Thời gian ở lại, Vũ tham gia mọi công việc của đơn
vị: tập sử dụng mọi vũ khí, đào hầm chống phi pháo, đào hào chiến
đấu, rồi tự vá được áo quần và còn giúp chị nuôi nữa. Cả đơn
vị ai cũng quý mến. Rồi Vũ còn tham gia một số chuyến đột ấp. Có
một đêm Vũ trên đường đi công tác cùng anh Dương, đội trưởng
đội công tác sinh viên học sinh thì gặp địch phục. Địch hô xung
phong và bắn như vãi đạn, hai anh em thay nhau bắn kìm chân địch và
rút lui an toàn. Cuối năm 1972, tôi từ ngoài thành vào lại căn cứ,
Vũ khoe với tôi "các anh tuyên dương tao đánh trận trong tình thế
bị phục kích, địch đông ta ít vậy mà vẫn bình tĩnh đánh trả và
bám nhau rút lui an toàn - coi như chiến công đầu tiên".
Một
buổi sáng mùa xuân, vâng một buổi sáng mùa xuân khi các bạn sinh
viên học sinh trong thành phố đang sôi nổi đón mừng hiệp định
Paris về Việt Nam, trong lúc ngụy quyền Sài Gòn đang ra sức bưng bít
thắng lợi của ta thì sinh viên học sinh tung ra đi giải thích và vận
động đồng bào phản đối ngụy quyền Sài Gòn vi phạm hiệp định
Paris, đòi Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam, các mặt trận công khai
trong thành phố bằng nhiều hình thức lên án ngụy quyền tay sai...
Cùng
thời điểm đó, tại một căn cứ phía Nam Đà Lạt, anh em đang sinh
hoạt chínht rị, bỗng tiếng ai đó ngoài suối hét to: "địch, địch",
tiếp theo là hàng loạt tiếng tiểu liên cực nhanh nổ rào rào bên
tai. Vũ chụp lấy cây AK lao ra gốc thông gần đó nổ ngay mấy loạt về
phía địch rồi cùng anh em rút qua dãy đồi bên kia. Không may, có một
đồng chí nữ bị ngất xỉu, phải dìu nên di chuyển rất chậm mà địch
thì tràn lên rất nhanh ! Phải chặn bước tiến của giặc. Thế là Vũ
bám lại đánh trả. Độ chừng anh em rút khỏi, Vũ vội vác súng chạy
theo nhưng không kịp nữa rồi, địch đã tràn lên khắp các hướng
đông như kiến cỏ, chúng hô xung phong, hô bắt sống, kêu đầu hàng...
Anh không hề nao núng. Nơi nào có tiếng hò hét của bọn giặc, anh lập
tức hướng mũi súng về phía đó siết cò. Anh em đã qua được đồi
bên kia bắn chi viện cho anh, nhưng không giải quyết được tình thế
nữa. Một mình anh giữa vòng vây, nhưng hàng trăm tên giặc không buộc
được anh đầu hàng. Anh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.
Anh ngã xuống bên lưng đồi thông, bọn giặc không tìm thấy nơi anh
nằm. Buổi chiều, anh em bám trở lại tìm anh. Anh nằm đó bên gốc thông
già, ngực nhiều vết đạn nhưng nét mặt thanh thản trong giấc ngủ
nghìn thu. Quanh anh, rừng hoa sim nở tím một màu thương nhớ.
Vũ
ơi ! Mười bảy năm qua, anh em vẫn mãi đi tìm đề mày về với Đà
Lạt, nơi mày đã cùng anh em ra đi, nhưng chưa tìm thấy. Hôm nay, viết mấy dòng này về mày, không phải để ca ngợi một dũng sĩ, không để ca ngợi một anh hùng, mà viết về một thằng bạn thân đã nằm xuống thầm lặng cho quê hương như hàng vạn liệt sĩ khác không đòi được tuyên dương anh hùng hay dũng sĩ, không toan tính được mất cho riêng mình mai sau. Cả hài cốt của mày vẫn chưa được nằm nơi trang trọng trong nghĩa trang liệt sĩ. Bọn tao, những thằng còn sống, có lỗi nhiều với mày. Đó là một nỗi day dứt không nguôi. Và một trăn trở nữa, có lẽ từ nơi xa xăm hư vô nào đó, mày và hàng vạn liệt sĩ vẫn hằng mong những người còn sống hôm nay đừng quên bất cứ một điều gì của quá khứ và hãy biết chiến thắng những gào thét bên tai của địa vị và quyền lợi ích kỷ để sống trung thực, sống trong sáng vì quê hương, vì đồng đội như mày và vô vàn những liệt sĩ thầm lặng khác đã từng sống và hy sinh như thế.
NGUYÊN |
|